Các con bảo Thầy là ai? – Veritas
(Trích dẫn từ ‘Hãy Ra Khơi’)
Lời tiên báo về cái chết
của Ngài được Chúa Giêsu đưa ra lần
đầu tiên ngay sau khi nghe lời xưng nhận phi
thường của ông Phêrô. Đây là
một trong những giây phút hệ trọng nhất trong
cuộc đời của Chúa Giêsu. Ngài
hỏi câu đó khi Ngài đã nhất định đi lên
Giêrusalem. Ngài biết rõ những gì
đang chờ đợi Ngài ở đó, và câu trả
lời cho câu hỏi của Ngài là rất mực quan
trọng. Điều Ngài đã biết
đó chính là Ngài đang tiến đến cây thập giá
để chết. Còn điều Ngài
muốn biết trước khi Ngài ra đi là đã có ai
thực sự khám phá Ngài là Đấng nào chưa? Câu trả lời đúng sẽ thay đổi
tất cả. Nếu không có câu trả
lời, mà chỉ có hiểu lầm, thì điều này có
nghĩa là công việc của Ngài đã uổng công. Nếu có một nhận thức nào đó, dầu
rất sơ sài, thì điều đó có nghĩa là Ngài
đã thắp lên một ngọn đuốc trong tâm hồn
loài người mà thời gian sẽ không bao giờ tắt
được.
Ngài bắt đầu đưa ra một câu hỏi:
“Dư luận quần chúng nói Thầy là ai?” Câu
trả lời của họ cũng không khác gì câu trả
lời của người đời ngày nay: người
này bảo là Gioan Tẩy giả, kẻ khác cho là Êlia, kẻ
khác nữa cho là một tiên tri đời xưa sống
lại: “Có nghĩa là một nhà cải cách, một nhà
đại truyền giáo, một sứ giả của Thiên
Chúa”. Những lời phỏng đoán đó không làm cho Chúa
Giêsu hài lòng, rồi quay về phía các môn đệ: “Còn
về phần các ngươi thì nói Ta là ai?” Lòng Chúa
Giêsu hân hoan biết bao khi khám phá bất ngờ của Phêrô
tràn ra môi miệng ông: “Thầy là Đấng Xức Dầu
của Thiên Chúa”. Khi nghe điều đó Ngài
biết mình đã không thất bại.
Đây là một xác định vĩ
đại về Đấng Kitô mà cả thế giới
ngày nay vẫn được nghe, nhưng lúc ấy Chúa
Giêsu căn dặn các môn đệ: “Đừng nói
điều ấy với ai”. Không những các
môn đệ phải khám phá ra sự kiện đó, mà các
ông còn phải khám phá ra ý nghĩa của sự kiện
đó nữa. Các ông đã lớn lên trong
một nền tư tưởng dạy rằng, phải
trông đợi từ Thiên Chúa một vị vua chiến
thắng sẽ dẫn dắt họ đến địa
vị bá chủ thế giới. Cặp mắt
của Phêrô hẳn đã sáng lên một niềm xúc
động khi ông thốt lên lời đó. Nhưng
Chúa Giêsu còn phải dạy cho các ông biết rằng Chúa
Cứu Thế đã đến để chết trên cây
thập giá. Ngài phải làm đảo
lộn tư tưởng của các ông về Thiên Chúa và ý
muốn của Ngài, và từ giờ phút này, Ngài sẽ
để tâm làm việc đó. Các ông
đã khám phá ra Ngài là ai, bây giờ các ông còn phải khám phá
thêm ý nghĩa của sự khám phá đó. Chính các môn đệ phải biết ý nghĩa
về sự chết và sống lại của Chúa
trước đã. Ngày nay không một
người nào có thể làm chứng về Đấng Kitô
mà lại không biết ý nghĩa của sự chết
chuộc tội và quyền năng của sự sống
lại của Ngài. Rồi Chúa Giêsu cho các
ông biết sự chết mà Ngài sắp phải chịu là
rất cần, và quả quyết với họ rằng sau
ba ngày Ngài sẽ sống lại.
Có hai điều cần phải biết trong
đoạn lời Chúa này:
. Chúa Giêsu bắt đầu bằng cách
hỏi người ta đang nói gì về Ngài, rồi
đột nhiên hướng câu hỏi thẳng vào nhóm môn
đệ: “Các ngươi nói Ta là ai?”.
Không bao giờ được
cho là đủ nếu chỉ biết những điều
người ta nói về Chúa Giêsu. Một người
có thể trúng tuyển các kỳ thi về những lời
nói và tư tưởng cổ kim của thiên hạ về
Chúa Giêsu, người ấy có thể đọc hết các
sách Kitô học, được viết bằng mọi
thứ tiếng trên thế giới, nhưng người
ấy vẫn chưa phải là Kitô hữu. Chúa
Giêsu phải là một khám phá riêng của cá nhân chúng ta.
Kitô giáo không phải là một câu chuyện
lưu truyền. Đối với mỗi
người, Chúa Giêsu không đến với câu hỏi
rằng: “Ngươi có thể nói cho ta những
điều kẻ khác đã nói và biết về Ta chăng?”. Nhưng Ngài hỏi: “Ngươi nói Ta là
ai?” Phaolô đã không nói: “Tôi biết điều tôi đã
tin”, nhưng ông nói: “Tôi biết Đấng tôi tin”. Kitô giáo không có nghĩa là đọc một bản
tín điều nhưng là biết một Đấng nào.
Trong đoạn này chúng ta nghe
tiếng “phải” từ miệng Chúa Giêsu, Ngài phán: “Ta
phải đi lên thành Giêrusalem Chịu chết”.
Thật rất ý nghĩa khi
chúng ta để ý đến những tiếng “phải”
Chúa nói trong Phúc âm Luca. Ngài nói: “Há chẳng biết con
phải lo việc của Cha con sao?” “Ta cũng phải loan
báo Tin Mừng cho các thành khác”; “nhưng ngày nay, ngày mai và ngày
kia Ta phải đi”. Ngài thường nói
đi nói lại với các môn đệ rằng, Ngài
phải đi đón cây thập giá của mình. Chúa Giêsu là người hiểu rõ mình có một
định mệnh phải thi hành. Ý
muốn của Thiên Chúa là ý muốn của Ngài. Ngài
không có mục đích nào khác với thế gian này ngoài
việc làm trọn điều Thiên Chúa đã sai Ngài, là Kitô
hữu, cũng như Chúa của mình, là Người
hằng vâng lời.
Định mệnh của Ngài
cũng là định mệnh của những kẻ là môn
đệ của Ngài. Tại đây Chúa
đặt ra các điều kiện cho những ai muốn
là môn đệ của Ngài.
Người đó phải từ
chối mình. Điều đó có
nghĩa gì?
Một học giả đã giải thích
như sau: Phêrô đã một lần từ chối Chúa khi
ông nói về Chúa Giêsu rằng: “Tôi không biết người
đó”. Chúng ta từ bỏ mình là nói rằng: “Tôi không
biết tôi” tức là không biết chính sự hiện
hữu của mình, coi mình như không có vậy. Chúng ta thường tự đặt mình lên cao
dường như mình là quan trọng nhất trên thế
gian này. Nếu muốn theo Chúa Giêsu,
chúng ta phải tự xóa mình đi, quên chính bản thân
của mình.
. Người đó phải vác thập giá của
mình:
Cây thập giá không phải chỉ
là biểu hiện sự đau đớn vì sỉ
nhục, và còn là dụng cụ của sự chết.
Chúa Giêsu biết rõ thế nào là đóng đinh
vào thập giá. Khi Ngài còn là một cậu bé
mười một tuổi, thì Giuđa, người xứ
Galilê đã cầm đầu một cuộc nổi
dậy chống Lamã. Ông đã đánh phá kho vũ khí của
vua tại Sepphoris, chỉ cách Nazareth
6,4 cây số. Lamã trả thù tức
khắc, Sepphoris bị san thành bình địa, dân chúng
bị bắt làm nô lệ, hai ngàn loạn quân bị đóng
đinh vào thập giá dựng dọc theo
hai bên đường cái để làm lời cảnh cáo
ghê sợ cho kẻ nào muốn nổi loạn. Vác thập
gía mình có nghĩa là chúng ta phải sẵn sàng đối
diện với những hình khổ như vậy vì lòng
trung thành với Chúa, là chúng ta sẵn sàng chịu
đựng mọi thứ đau khổ loài người có
thể làm cho chúng ta vì chúng ta thành tâm đi theo
Chúa Giêsu.
. Người đó phải phân phát sự sống
mình chứ không tích trữ nó:
Toàn bộ các tiêu chuẩn
trần gian phải đổi thay. Các câu hỏi không
phải là “Tôi có thể thâu tích bao nhiêu?”,
nhưng là “Tôi có thể phân phát bao nhiêu”. Không phải
việc gì là điều an toàn để
làm, nhưng là việc nào là điều phải lẽ
để làm, không phải cái gì là tối thiểu
được phép làm, nhưng là “cái gì là điều
tối đa có thể làm”. Kitô hữu phải nhận
thức rằng đời sống của mình là cho đi,
không phải giữ lấy cho mình, nhưng là đem phân phát
đời mình cho kẻ khác, không phải là tiết
kiệm năng lực, nhưng là tiêu hao năng lực cho
Chúa và tha nhân.
Thật ra sự chọn lựa này, nói cho
cùng chỉ vì: “Những gì xưa kia tôi cho là có lợi, thì
nay vì Đức Kitô, tôi cho là thiệt thòi. Hơn
nữa tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so
với mối lợi tuyệt vời, là được
biết Đức Giêsu Kitô, Chúa của tôi. Vì
Người, tôi đành mất hết, vì tôi coi tất
cả như rác để được Đức Kitô và
được kết hiệp với Người”.
Xin Chúa ban cho
mỗi người chúng ta biết ơn trở thành
những chứng nhân hữu hiệu của Ngài giữa anh
chị em xung quanh, chứng nhân trung thành với đức
tin mà chúng ta đã lãnh nhận và giờ đây chúng ta cùng
nhau tuyên xưng qua kinh tin kính.
|