HIỆP SỐNG TIN MỪNG
CN 33 TN A - LỄ CÁC THÁNH
TỬ ĐẠO VIỆT NAM (24/11)
2 Mcb 7,1.20-23.27b-29; Rm 8,31b-39;
Ga 12,20-32
LÀM CHỨNG CHO CHÚA HÔM NAY
I.
HỌC LỜI CHÚA
1.TIN
MỪNG: Ga 12,20-32
(20) Trong số những
người lên Giê-ru-sa-lem thờ phượng Thiên Chúa, có mấy
người Hy Lạp. (21) Họ đến gặp ông
Phi-lip-phê, người Bết-xai-đa miền Ga-li-lê và xin
rằng: ”Thưa ông, chúng tôi muốn được gặp
ông Giê-su”. (22) Ông Phi-lip-phê đi nói với ông An-rê. Ông An-rê
cùng với ông Phi-lip-phê đến thưa với
Đức Giê-su. (23) Đức Giê-su trả lời: ”Đã
đến giờ Con Người được tôn vinh !
(24) Thật, Thầy bảo thật anh em: Nếu hạt
lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn
trơ trọi một mình. còn nếu chết đi, nó
mới sinh được nhiều hạt khác. (25) Ai yêu quý
mạng sống mình, thì sẽ mất. còn ai coi
thường mạng sống mình ở đời này, thì
sẽ giữ lại được cho sự sống
đời đời. (26) Ai phục vụ Thầy, thì hãy
theo Thầy, và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ
Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ
Thầy, Cha của Thầy sẽ quý trọng người
ấy. (27) Bây giờ, tâm hồn Thầy xao xuyến !
Thầy biết nói gì đây ? Lạy Cha, xin cứu con
khỏi giờ này. nhưng chính vì giờ này mà Con đã
đến. (28) Lạy Cha, xin tôn vinh danh Cha”. Bấy giờ
có tiếng từ trời vọng xuống: ”Ta đã tôn vinh
danh Ta. Ta sẽ còn tôn vinh nữa !” (29) Dân chúng đứng
ở đó nghe vậy liền nói: ”Đó là tiếng
sấm !” Người khác lại bảo: ”Tiếng một
thiên thần nói với ông ta đấy !” (30) Đức
Giê-su đáp: ”Tiếng ấy đã vọng xuống không
phải vì Tôi, mà vì các người. (31) Giờ đây
đang diễn ra cuộc phán xét thế gian này. Giờ
đây thủ lãnh thế gian này sắp bị tống ra
ngòai ! (32) Phần Tôi, một khi được
giương cao lên khỏi mặt đất, Tôi sẽ kéo
mọi người lên với Tôi”.
(33) Đức Giê-su nói thế để ám chỉ
người sẽ phải chết cách nào.
2. Ý
CHÍNH:
Khi
mấy người Hy-lạp đang ở Giê-ru-sa-lem yêu
cầu các môn đệ cho được gặp
Đức Giê-su, thì Người tuyên bố rằng: “Đã
đến giờ Con Người được tôn vinh !”
Sau đó, Người dùng hình ảnh một hạt lúa mì
chỉ phát sinh thêm nhiều bông hạt khác nếu nó tự
hủy đi. Cũng vậy, Người cũng sẽ
phải trải qua sự chết rồi mới
được vào trong vinh quang phục sinh. Về phần
các môn đệ, các ông cũng cần phải đi con
đường của Người: Ai coi thường
mạng sống mình ở đời này, sẵn sàng thí
mạng sống mình vì Đức Giê-su, thì sẽ có sự
sống vĩnh cửu ở đời sau như
Người đã hứa: “Thầy ở đâu, kẻ
phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó”.
II.
SỐNG LỜI CHÚA:
1.LỜI
CHÚA: ”Đã đến giờ
Con Người được tôn vinh ! Thật, Thầy
bảo thật anh em: Nếu hạt lúa gieo vào lòng
đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi
một mình. còn nếu chết đi, nó mới sinh
được nhiều hạt khác”. (Ga 12,23-24).
2.CÂU
CHUYỆN:
1) LOÀI
NGƯỜI AI CŨNG SỢ CHẾT:
Một
bác tiều phu đi đốn củi. Đốn
được một bó to sắp mang về thì bác bỗng
chợt nghĩ thấy đời mình sao khổ quá,
tuổi đời cứ tăng lên, sức khoẻ thì sút
đi, mà gánh nặng gia đình vẫn không đổi thay,
lại thấy nhiều người chẳng phải lo
đến chuyện cơm áo gạo tiền. Bác mới kêu
lớn lên: "Ước gì tôi được gặp
Thần Chết!"
Bác
vừa nói xong thì thấy Thần Chết đứng ngay
trước mặt, tay cầm lưỡi hái, miệng
hỏi: "Ông lão muốn điều gì?" Bác lập
cập trả lời: "Bó củi to nặng quá! Nhờ
ngài đưa giùm lên vai tôi".
Thế
đó, dù khổ đến đâu, sự sống vẫn
luôn được yêu quý hơn mọi giá. Nhưng dù có quý
trọng và giữ gìn đến đâu, cái chết vẫn
là một sự thực không ai có thể phủ nhận
được: "Mạng người dù giá cao mấy
nữa, thì rồi ra cũng chấm dứt đời
đời. Nào phàm nhân sống mãi được sao mà
chẳng phải đến ngày tận số?" (Tv
49,9-10)
2) CUỘC
TỬ ĐẠO CỦA THÁNH AN-RÊ TRẦN AN DŨNG LẠC
Trần
An Dũng Lạc sinh năm 1795, gia đình ngoại giáo nghèo
khó ở Bắc Ninh. Lớn lên, cậu theo cha mẹ
đến xứ Kẻ Chợ sinh sống. Tại đây,
cậu được một thầy giảng nhận làm
con nuôi và cho ăn học. Cậu được chịu
phép rửa tội và nhận tên thánh là An-rê. Sau đó
cậu đáp lại ơn gọi dâng mình cho Chúa và theo
học tại chủng viện Vĩnh Trị. Thầy
An-rê được thụ phong linh mục vào năm 1823 khi
được 28 tuổi. Từ khi thụ phong linh
mục, cha An-rê được sai đi giúp xứ. Ở
đâu cha cũng nêu gương sáng đạo đức
qua cuộc sống khổ hạnh. Ngoài những ngày
giữ chay theo luật định, cha còn tự nguyện
giữ chay thêm suốt cả Mùa Chay và các ngày Thứ Sáu
Thứ Bảy hàng tuần. Nhờ đời sống
đơn sơ khiêm hạ và khắc khổ như
vậy, nên cha đã gây được thiện cảm
của những người chung quanh và thành công trên
bước đường tông đồ: qua cha, nhiều
tội nhân đã được ơn giao hòa với Chúa và
nhiều người lương đã tin vào Chúa và xin gia
nhập đạo.
Khi
đạo Công giáo bị bách hại gắt gao thời vua
Minh Mạng, cha An-rê Dũng đã phải trốn lánh ở
nhiều nơi. Một lần kia ở Kẻ Roi, khi
vừa dâng lễ xong thì bị quan quân vây bắt và
được giáo dân chuộc về. Sau đó cha đã
đổi tên Trần An Dũng thành Trần An Lạc.
Lần thứ hai cha bị bắt ở xứ Kẻ Sông
khi đang xưng tội với cha Phê-rô Thi. Hai cha bị
quan quân đòi tiền chuộc tới 200 quan tiền. Nhưng
giáo dân chỉ quyên góp được một nửa số
tiền nói trên, nên chỉ mình cha Lạc được
thả. Rồi cha lại bị đám lính khác bắt mang
về huyện giam chung với cha Phê-rô Thi và cả hai
được áp giải về Hà Nội.
Hôm
sau, quan án cho điệu hai cha ra công đường tra xét
và bắt phải bước qua Thánh Giá để tỏ ý
bỏ đạo. Nhưng thay vì làm theo lệnh quan, hai cha
lại cùng quì xuống hôn kính Thánh Giá và nói: “Không bao giờ
chúng tôi chối Chúa và bỏ đạo cả. Chúng tôi
đã suốt đời hy sinh vất vả đem Chúa
đến cho người khác, thì lẽ nào bây giờ
lại hèn nhát chối bỏ Chúa !”. Trước sự
bất tuân của hai cha, quan tức giận sai lính đem
nhốt các ngài vào ngục thất và làm thành án gửi
về kinh. Suốt thời gian ở trong tù, hai cha luôn
cầu nguyện và ăn chay hãm mình, xin Chúa cho
được ơn bền đỗ đến cùng. Tuy
giáo dân được phép thăm nuôi hằng ngày, nhưng
hai cha yêu cầu họ đừng đem đồ ăn
ngon đến, và nếu bữa nào có thịt cá thì các ngài
lại cho các bạn tù hoặc cho lính canh.
Ngày
21 tháng 12 năm 1839, hai cha đã chính thức nghe án lệnh
xử trảm của nhà vua. Rồi hai cha bị
điệu ra pháp trường Cầu Giấy ở Hà
Nội. Đến nơi, các ngài cầu nguyện ít phút,
rồi cúi đầu cho lý hình dễ dàng thi hành phận
sự. Đức Thánh Cha Lê-ô 13 đã tôn phong các ngài lên hàng
chân phước tử đạo vào ngày 27 tháng 05 năm
1900. Và ngày 19 tháng 06 năm 1988, Đức Thánh Cha Gio-an
Phao-lô II lại nâng các ngài lên bậc hiển thánh. Hội
Thánh cũng chọn làm lễ kính “Thánh An-rê Trần An
Dũng Lạc Và Các Bạn Tử Đạo” hay lễ kính
“Các Thánh Tử Đạo Tại Việt Nam”.
3) THÀY
GIẢNG AN-RÊ PHÚ YÊN SẴN SÀNG CHẾT VÌ DANH CHÚA:
Một
thanh niên 19 tuổi bị tuyên án tử hình mà không
được nói một lời để bào chữa mình.
Người tuyên án là quan trấn tỉnh Phú Yên. Vào tháng 7
năm 1644 vị quan này từ triều đình nhà vua
về, đem theo sắc lệnh cấm đạo và
bắt đầu giam một ông già tên rửa tội là
Anrê, rồi sai một toán lính đến nhà vị thừa
sai Đắc Lộc để bắt thầy giảng
số một là Inbaxu. Khi toán lính xông vào nhà tìm thầy Inbaxu
thì chỉ gặp người thanh niên Phú Yên là người
mà Cha Đắc Lộ đã rửa tội được
ba năm và đã từng cho đi theo để giúp dạy
giáo lý. Người thanh niên này đã can đảm nhận
hết các tội chúng gán cho thầy Inbaxu và các thầy
giảng, nên bị chúng trói lại và điệu đi. Anrê
Phú Yên vui vẻ theo toán lính và trong suốt quảng
đường không ngừng giảng cho những kẻ
dẫn mình vào ngục biết đường tránh hỏa
ngục hầu hưởng phúc Thiên Đàng.
Nhờ
sự can thiệp của cha Đắc Lộ và một
số thương gia người Bồ Đào Nha, ông già
Anrê được tha bổng, còn Anrê Phú Yên thì không.
Người thanh niên cường tráng này dám cương
quyết thà chết chẳng thà bỏ đạo nên sẽ
phải chết để nêu gương cho mọi
người biết vâng lệnh nhà vua. Vậy lính dẫn
Anrê Phú Yên tới thửa ruộng cách thành phố chừng
nửa dặm. Mặc dầu đeo gông nặng, Anrê đi
rất nhanh đến nỗi cha Đắc Lộ theo không
kịp. Tới nơi hành quyết, thầy giảng
trẻ tuổi Anrê quỳ xuống để chiến
đấu cho can đảm hơn. Lính gác chung quanh không cho
ai vào phía trong cả, nhưng viên đội trưởng
cho phép cha Đắc Lộ được đứng
cạnh thầy. Cha thấy rõ mắt thầy Anrê nhìn
trời cao, miệng luôn hé mở và kêu danh thánh Giê-su.
Một
người lính lấy giáo đâm thầy từ phía
lưng, thâu qua ngực chừng hai bàn tay. Khi ấy thầy
nhìn cha Đắc Lộ như để vĩnh biệt và
cha khuyên thầy nhìn lên trời là nơi thầy sắp
được Chúa Giê-su đón vào cõi phúc. Từ giây phút
đó thầy chăm chút nhìn lên và không còn nhìn xuống
nữa. Người lính rút lưỡi giáo ra đâm phát
thứ hai, rồi đến phát thứ ba, hắn cố ý
đâm trúng tim anh nhưng vẫn chưa chết. Thấy
thế, một người lính khác lấy mã tấu
chặt vào cổ anh, anh vẫn chưa xong, phải thêm
một nhát thứ hai đầu anh mới lìa khỏi
cổ, máu chảy tràn lai làng. Hành quyết xong, toán lính kéo
nhau ra bờ sông để rửa các vết máu. Cha
Đắc Lộ nhặt đầu anh gói lại kỹ
càng như một báu vật, còn xác anh ngài tẩm liệm
gởi xuống tàu buôn đưa về Macao chôn cất.
Ngài biết đây là một thánh nhân, cần tôn trọng thi
thể để ngàn đời lưu danh.
3. SUY
NIỆM:
1) TỬ
ĐẠO LÀ CHẤP NHẬN CON ĐƯỜNG “QUA ĐAU
KHỔ VÀO TRONG VINH QUANG”:
Đức
Giê-su đã tiên báo: “Con Người phải chịu đau
khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng
tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết,
và ngày thứ ba sẽ trỗi dậy”. Rồi Người
kêu gọi : “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính
mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,22-23).Người
tiên báo : “Tôi tớ không lớn hơn chủ nhà. Nếu
họ đã bắt bớ Thầy họ cũng sẽ
bắt bớ anh em” (Ga 15,20). Lời tiên báo này đã
được ứng nghiệm trong Hội Thánh như sau:
- Ứng nghiệm nơi Đức
Giê-su: Vào năm ba
mươi tuổi, Đức Giê-su đã thi hành sứ
vụ đi rao giảng Tin Mừng Nước Trời. Các
đầu mục Do thái do không tin Đức Giê-su là
Đấng Cứu Thế, nên tìm mọi cách để chống
lại Người: Họ tố cáo Người lộng
ngôn phạm thượng khi dám gọi Thiên Chúa là Cha “Ab-ba” (Cha
ơi), và con xưng mình là Con Thiên Chúa; tố Người đã
nhờ tay Quỷ Vương mà trừ quỷ; Tố Người
phạm luật “hưu lễ” khi hành nghề chữa
bệnh trong ngày Sabat; Tố Người đã xách
động quần chúng không nôp thuế cho chính quyền
Rô-ma... Cuối cùng họ đã bắt Người và kết
án tử hình cho Người trong Thượng Hội
Đồng Do Thái, rồi nộp Người cho quan Tổng
Trấn Phi-la-tô và làm áp lực để ông này phải kết
án tử hình thập giá cho Người.
- Ứng nghiệm nơi các
Tông đồ: Sau lễ Ngũ
Tuần, Các Tông đồ được đầy ơn Thánh
Thần đã bắt đâu chu toàn sứ mệnh rao giảng
Tin Mừng cho muôn dân, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem
đến tận cùng thế giới là thủ đô Rô-ma.
Các ông đã bị bắt bớ dánh đòn và bị kết
án tử hình. Trong số 12 tông đồ thì ngoài Gioan bị
chết già, còn các vị khác đều bị giết chết
vì danh Chúa Giê-su. Tông đồ Phê-rô bị đóng đinh ngược
và tông đồ Phao-lô bị chém đầu tại thủ
đô Rô-ma.
- Ứng nghiệm nơi
Hội Thánh Sơ Khai: Giáo
Hội Chúa Ki-tô đã trải qua gần 300 năm bị bách
hại do người Do Thái và do các hoàng đế Rô-ma.
Đến triều hoàng đế Công-tăng-tanh
đạo mới được sắc chỉ tha và sau
đó còn trở thành quốc giáo. Trong suốt thời gian
ấy, các tín hữu đã phải
trốn tránh dưới các hang hố đào trong lòng đất,
gọi là các hang toại đạo tại thủ đô Rô-ma.
Rất nhiều Tông đồ và giáo dân đã bị bắt
bớ, xử tử, nhất là dưới triều hoàng đế
Nê-rông.
- Ừng nghiệm nơi Hội
Thánh Việt Nam: Ngay từ
thế kỷ 16, các vị thừa sai ngoại quốc đã
đi theo các đoàn thương thuyền vượt
biển từ các nước Âu châu đến Việt Nam giảng
đạo theo lệnh Chúa truyền. Nhưng vua quan
nước ta thời đó do thiếu khôn ngoan và hiểu
biết, đã đồng hóa đạo với đế
quốc xâm lược, và ra nhiều sắc chỉ cấm
đạo. Phong trào Cần Vương, Văn Thân thời
đó đã khích động dân chúng đi phá các làng theo
đạo, đốt cháy nhiều nhà thờ và bắt
bớ các vị thừa sai, các đạo trưởng và
những người có uy tín trong đạo… Rất
nhiều tín hữu phải bỏ lại nhà cửa,
ruộng vườn và sản nghiệp để chạy trốn
vào những nơi rừng thiêng nước độc
để bảo toàn mạng sống và để giữ
vững đức tin. Đã có hàng trăm ngàn tín hữu
bị bách hại trong thời kỳ này: Họ bị phân
sáp thành vài ba người và phải vào ở giữa làng
người lương. Nhiều làng công giáo bị
đốt phá, nhiều nhà thờ bị triệt hạ. Trong
số các tín hữu bị giết hại ấy, Hội
Thánh sau khi điều tra đã tôn phong một số vị
có đầy đủ hồ sơ chứng tích vào hàng
ngũ các thánh Tử Đạo Việt Nam.
2)
TỬ ĐẠO LÀ SẴN SÀNG CHỊU CHẾT VÌ
ĐỨC TIN ĐỂ BIỂU LỘ LÒNG YÊU MẾN CHÚA:
-
Một trong những thử thách mà vua quan ngày xưa áp
dụng là đặt một cây thánh giá dưới
đất rồi truyền cho các tín hữu bị bắt
phải bước qua. Ai bước qua thánh giá là dấu công
khai bỏ đạo thì sẽ được tha. Ai kiên
quyết không bước qua thì bị coi là ngoan cố nên sẽ
bị hành hình đến chết. Nhưng chính thái
độ sẵn sàng chịu chết này lại là bằng
chứng của lòng mến Chúa tột đỉnh.
-
Trong số 117 vị thánh Tử Đạo Việt Nam có 8
Giám Mục, 50 Linh Mục, 59 Giáo Dân, một phụ nữ là
bà Anê Lê Thị Thành, mẹ của sáu người con. Các
ngài thuộc đủ mọi thành phần xã hội, lứa
tuổi, ngành nghề như: công chức, thương gia,
công nhân, quân nhân, y sĩ, ngư phủ, trùm họ v.v. Trong
số đó, có một số nhà truyền giáo “ngoại
quốc” như người Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha,
Ý… đã đến Việt nam truyền đạo và đã
được phúc tử vì đạo.
-
Các ngài đã phải chịu mọi cực hình như: gông
cùm xiềng xích trong cũi, bị voi giầy, bị trảm
quyết (chặt đầu), xử giảo (thắt
cổ), bị thiêu sinh (bị đốt cháy trong lửa
đến chết), bị lăng trì (phân thây ra từng
mảnh), bị bá đao (bị chém bằng trăm nhát
đao), bị chết rũ tù (Chết bệnh trong
thời gian đang ở tù)… để biểu lộ lòng
mến tột đỉnh như lời Chúa phán: “Không có tình thương nào
cao cả hơn tình thương của
người đã hy sinh tính mạng vì bạn
hữu của mình” (Ga 15,13).
3) MUỐN
ĐƯỢC TỬ ĐẠO PHẢI CHẾT CHO
TỘI LỖI VÀ SÔNG LẠI TRONG ƠN CHÚA:
-
Không phải chỉ có việc chịu chết là trở
thành thánh tử đạo: Thực vậy, trước khi
can đảm chịu chém đầu tại pháp
trường hay trung thành chịu chết trong chốn ngục
tù, các thánh tử đạo đã phải là những
người chồng người vợ chu toàn bổn
phận đối với gia đình và xã hội; Đã phải
là những người con hiếu thảo với cha
mẹ; Đã phải là những người lính dũng
cảm sẵn sàng bảo vệ quê hương; Đã
phải là những thầy thuốc và lý trưởng có
tinh thần phục vụ cao… Vì người ta sẽ không
thể là công dân của Nước Trời, nếu không là công
dân tốt ở trần gian.
-
Mừng kính các thánh Tử đạo Việt Nam là dịp
nhắc nhở chúng ta sống niềm tin yêu trung kiên trong
mọi tình huống gặp phải. Đừng vì gặp chút
khó khăn mà đã chán nản bỏ đạo.
Đừng thất vọng khi nhìn thấy gương
xấu của một vài vị mục tử. Vì “Con
người nhân vô thập toàn”: Trong thửa ruộng Hội
Thánh trần gian vẫn luôn có cỏ lùng mọc chen với
lúa tốt. Ngay trong hàng ngũ mười hai Tông Đồ
do chính Đức Giê-su tuyển chọn và huấn luyện
cũng vẫn có một Giu-đa phản bội bán nộp
Thầy cho kẻ thù với giá ba mươi quan tiền.
4) LÀM
CHỨNG BẰNG LỐI SỐNG VỊ THA NHÂN ÁI VÀ KHIÊM
NHƯỜNG PHỤC VỤ:
- Làm
chứng cho Chúa bằng sự thực thi giới răn yêu
thương theo Lời Chúa dạy:
Không
phải một sớm một chiều mà từ một con quỷ
xấu xa có thể biến thành một vị thánh từ bi
nhân ái, mà người ta chỉ có thể nên thánh với
thời gian tập luyện: “Cây xiêu theo chiều nào thì sẽ
đổ theo chiều ấy”. Kinh nghiệm cho thấy
thực trạng người ta để có thể thay
đổi: Khi xã hội và thời thế thay đổi,
thì nhiều tín hữu cũng lập tức chối bỏ
đức tin chỉ vì miếng cơm manh áo, vì muốn có địa
vị cao trong xã hội, hay muốn được tự
do hưởng thụ những lạc thú thấp hèn. Nguyên
nhân chính yếu là do các tín hữu đó đã không tin
cậy vào ơn Chúa giúp, và không học sống theo Lời
Chúa dạy. Ngôi nhà Đức tin của họ mới
chỉ được xây trên nền cát, nên dễ bị lún
sụt khi hoàn cảnh khó khăn như mưa bão lũ
lụt xảy ra.
- Ngày nay
chúng ta cần làm chứng cho Chúa và tránh thành kẻ phản
chứng thế nào? :
+
Trong môi trường xã hội hôm nay, chúng ta chỉ chiếu
sáng đức tin hay làm chứng cho Chúa cách hữu hiệu bằng
lối sống yêu thương, luôn tha thứ và khiêm
nhường phục vụ tha nhân.
Trong
gia đình, vợ chồng sẽ làm chứng cho Chúa bằng
cách vun sới tình yêu bằng sự tôn trọng lẫn nhau,
cha mẹ quan tâm nuôi dạy con cái nên người. Con cái hiếu
thảo vâng lời cha mẹ. Học trò làm chứng cho Chúa
bằng việc chăm chỉ học hành, đạt thành
tích cao. Các cầu thủ bóng đá hay các môn thi đấu
chỉ làm chứng cho Chúa khi đạt thành tích cao
được tuyên dương thăng thưởng.
+ Trái lại, chúng ta sẽ “chối
đạo”, sẽ “đạp lên thánh giá ” và trở thành
kẻ phản chứng:
Khi ta quá ích kỷ, chỉ nghĩ
đến mình, mà không biết quảng đại cho đi
và khiêm nhường phục vụ.
Khi ta chỉ lo tìm kiếm tiền
bạc và chức quyền bất cứ giá nào, dù phải vi
phạm giới răn của Chúa.
Khi ta thụ động trước
những bất công và thờ ơ trước những người
khổ đau bất hạnh bên cạnh.
Khi ta không giữ lời thề chung
thủy vợ chồng, để chiều theo đam mê
hưởng thụ lạc thú bất chính.
Khi cha mẹ nhẫn tâm giết con
bằng các phương pháp ngừa thai nhân tạo hoặc
nạo phá thai.
Khi ta sa đà vào bàn nhậu say xỉn
để bàn chuyện làm ăn bất chính, hơn là đi
dự lễ Chúa Nhật.
Khi ta nuôi lòng hận thù tha nhân, và không chịu
làm hòa và tha thứ theo lời Chúa dạy.
Khi ta thoả hiệp với thế
gian, cố tình bịt tai nhắm mắt không dám lên
tiếng bênh vực công lý.
4. THẢO LUẬN:
1)Tại
sao đạo Công Giáo luôn bị người đời thù
ghét bách hại ?
2)Tử
đạo là sẵn sàng chịu chết để làm
chứng cho Chúa (x. Cv 1,8). Mỗi người chúng ta
phải làm chứng cho Chúa thế nào trước mặt
anh em lương dân ?
5.NGUYỆN
CẦU:
-
LẠY CHÚA GIÊ-SU VỊ TỬ ĐẠO TIÊN KHỞI. Xin cho
chúng con luôn giữ đức tin của mình, giữ
được vị mặn của muối, tác
động của men… để đem đến cho
trần gian một sức sống mới và một tinh
thần mới của Thánh Thần, để cộng tác
với Chúa thánh hóa trần gian nên Trời Mới
Đất Mới.
-
LẠY CHÚA. Xưa Chúa đã dạy các môn đệ : “Anh em
sống giữa thế gian, nhưng không thuộc về
trần gian”. Xin cho chúng con hôm nay đừng bao giờ
bỏ Chúa để chạy theo những cám dỗ của
thế gian, ma quỉ và xác thịt. Xin cho chúng con luôn ý
thức rằng: “Con nhà tông không giống lông, cũng giống
cánh” để chúng con luôn sống xứng đáng là những
con cháu của các anh hùng Tử Đạo Việt Nam. Xin cho
chúng con luôn chiếu ánh sáng tin yêu trước mặt
người đời: Biết nở nụ cười thân
ái mỗi khi tiếp xúc với tha nhân; Luôn cởi mở đi
bước trước làm quen với những
người mới gặp; Động viên an ủi
những ai đang bị rủi ro ; Khiêm nhường
phục vụ những người đau yếu bất
hạnh, để chúng con nên chứng nhân Tình Thương
của Chúa và giúp đưa nhiều người về làm
con Chúa trong Hội Thánh.
X) HIỆP CÙNG MẸ
MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.
LM ĐAN VINH - HHTM
|