Cám dỗ tại hoang địa – Lm FX. Vũ Phan Long
1.- Ngữ cảnh
Đoạn
văn này nằm trong Phần Mở của Tin Mừng Mt,
mà chúng ta có thể xác định vị trí theo lược
đồ sau đây:
A = Lời rao
giảng của Gioan Tẩy Giả và câu trích Is 40,3 (3,1-4)
B = Gioan và
Đức Giêsu: cuộc đối đầu giữa các
niềm hy vọng Đấng Mêsia (3,5-15)
C = Con yêu
dấu của Thiên Chúa Cha đăng quang Mêsia, với câu
nhắc đến Is 42,1 (3,16-17)
B’= Đức
Giêsu và ma quỷ: Loại trừ niềm hy vọng
Đấng Mêsia trần tục (4,1-11)
A’= Lời rao
giảng của Đức Giêsu và câu trích Is 8,23–9,1 (4,12-17).
Kết luận và chuyển mạch (4,18-25).
Trong phân
đoạn này, tác giả Mt đã vận dụng các
đoạn Cựu Ước mà ta có thể thấy qua
bảng đối chiếu sau:
Mt 4,1 - Đnl 8,2-3
Mt 4,2 - Xh 34,28; x. Đnl 9,9
Mt 4,4 - Đnl 8,3
Mt 4,6 - Tv 91,11-12 (LXX)
Mt 4,7 - Đnl 6,16
Mt 4,8 - Đnl 34,1
Mt 4,10 - Đnl 6,13
Mt 4,11 - Xh 11,14; x. Đnl 32,11; Tv 91,10-11
2.- Bố cục
Bản văn
có thể chia thành năm phần:
1) Mở (4,1-2);
2) Cám dỗ
thứ nhất (4,3-4);
3) Cám dỗ
thứ hai (4,5-7);
4) Cám dỗ
thứ ba (4,8-10);
5) Kết (4,11).
3.- Vài điểm chú giải
- Thần Khí dẫn vào
hoang địa
(1): Chính là Thần Khí đã xuống trên Đức Giêsu
tại sông Giođan nay dẫn (anagô) Người vào hoang
địa.
- hoang địa (1): Đây là một đề tài
quan trọng của Kinh Thánh, vì hoang địa gây ảnh
hưởng trong suốt lịch sử Dân Thiên Chúa.
Lịch sử này đã ghi lại hai kỷ niệm có
vẻ mâu thuẫn nhau, nhưng thật ra là hai mặt
của cùng một hoàn cảnh. (1) Thời gian ở trong
hoang địa trước tiên được trình bày
như là thời kỳ sống lý tưởng của Dân
được Thiên Chúa tuyển chọn. Trong thời
kỳ này, lý tưởng tôn giáo của họ phát triển
phong phú và họ sống lý tưởng này ở mức hoàn
hảo. (2) Thời kỳ này cũng còn được coi
như một thử thách, thậm chí một hình phạt
dành cho tội lẩm bẩm kêu ca và bất phục tùng.
Quả thật, hoang địa vừa là nơi con
người tách mình khỏi trần thế để
được thanh luyện, vừa là nơi thử thách.
- để chịu
quỷ dữ cám dỗ (1): Đây là một sự chọn lựa nằm
trong chương trình của Thiên Chúa. Tư cách Mêsia của
Đức Giêsu cần được thử thách. Và
sự thử thách này là một chặng cần thiết trong
ơn gọi của Đức Giêsu, trong tư cách Israel
mới.
- quỷ dữ (1): Từ ngữ Hy Lạp
diabolos có nghĩa là “kẻ vu khống”, “kẻ tố cáo”
(động từ diaballô, “tố cáo”; “kết án”). Bản
LXX đã dùng diabolos để dịch từ Híp-ri satan (HL
satanas). Trong Kinh Thánh, “quỷ” xuất hiện ra như là
kẻ tố cáo (x. Dcr 3,1-5; G 1–2; Tv 109,6), ông hoàng của
thế gian (Ga 12,31; 14,30), tên cám dỗ (G 1,8-12; 2,1-6; 2 Sm
24,1tt; 1 Sb 21,1; Kn 2,24; 1 Tx 3,5; 1 Cr 7,5; 2 Cr 11,3-15; Rm 16,17-20…). Dù
với tên gọi nào, “quỷ” cũng là một “đối
thủ”
(nghĩa nguyên thủy của từ satan), một kẻ thù
của Thiên Chúa và của loài người, nghĩa là
chống lại sự thiện. Xem trong Mt: 6,13; 8,28; 12,22;
12,24; 13,25; 16,23…
- Người ăn chay
suốt bốn mươi ngày bốn mươi đêm (2): Con số 40 chỉ một
thời gian khá dài và có sắc thái là một sự hoàn
tất với kết quả tích cực là giải phóng và
xây dựng con người. So với Lc, Mt thêm “bốn
mươi đêm” để ám chỉ thời gian
Đức Giêsu ở trong hoang địa tương
đương với thời gian Môsê ăn chay trên núi cao
để rồi sau đó được Đức Chúa
ban cho các điều khoản của Giao ước (Xh
34,28; x. Xh 25,18). Nhưng cũng có thể Mt muốn ám
chỉ đến Êlia nữa (x. 1 V 19,8: ăn chay trong hành
trình tiến về núi Khôrép). Hai dung mạo vĩ
đại này, đại diện cho Lề Luật và các
Ngôn sứ, sẽ tái xuất hiện trong cuộc Hiển
Dung của Đức Giêsu (cuộc Hiển Dung này chính là
cuộc thần hiển. Sau đó sẽ có việc
thiết lập Giao Ước mới nhờ cuộc
Khổ Nạn–Phục Sinh của Đức Giêsu). Có
lẽ Mt muốn nói rằng việc Đức Giêsu ăn
chay đã tóm kết cách nào đó kinh nghiệm của Môsê và
Êlia, cũng như các cám dỗ sẽ tóm kết lịch
sử của Israel tại hoang địa.
- Nếu ông là Con Thiên
Chúa (3): Cám dỗ
này do bởi quỷ và thử thách dưới chân thập
giá do bởi người Do Thái (Mt 27,40) song song với nhau:
chúng nhắm đến tư cách Mêsia của Đức
Giêsu. Đây cũng là một lời thách thức
Đức Giêsu làm lại các cử chỉ của Môsê,
để chứng tỏ thời đại thiên sai đã
đến. Không có lời nhắc đến man-na, nhưng
câu trả lời của Đức Giêsu khiến nghĩ
đến man-na.
- đã có lời chép
rằng (4):
Gegraptai là thì hoàn thành (perfect) ở thái bị động
của động từ graphô, “viết”. Thái bị
động này thay tên Thiên Chúa, nên có thể hiểu là “Thiên
Chúa đã viết”.
- vinh hoa của các
nước ấy
(8): Doxa (HL), “vinh quang”, đây là một từ ngữ Kinh
Thánh để chỉ sự lộng lẫy huy hoàng hoặc
giàu sang, sung túc, được tỏ ra bên ngoài.
4.- Ý nghĩa của bản văn
* Mở (1-2)
Bản văn
này được liên kết với bài tường
thuật về phép Rửa. Tại sông Giođan, Thần Khí
Thiên Chúa đã được ban cho Đức Giêsu, nay
cũng Thần Khí ấy lại dẫn Người vào
hoang địa. Chiều hướng của bản văn
là: Bởi vì Đức Giêsu đến hoàn tất nỗi
chờ mong của dân Người, nhất thiết
Người phải đảm nhận mọi chiều
kích của lịch sử dân Người: ở tại Ai
Cập (2,13-15), đi qua sông Giođan (3,13-17), cám dỗ trong
hoang địa (4,1-11). Qua các cám dỗ, Đức Giêsu cho
thấy Người chấp nhận trọn vẹn thánh ý
Chúa Cha; Người loại trừ mọi thứ cung cách
Mêsia mà Thiên Chúa không muốn (mà chính Gioan Tẩy Giả
đã hình dung), để chấp nhận làm một Mêsia
chịu đóng đinh.
Tất cả
bài tường thuật về ăn chay và cám dỗ tập
trung vào các biến cố của cuộc Xuất Hành. Dân
Israel cũng là “con yêu dấu của Thiên Chúa”, nhưng
tất cả hành trình trong hoang địa cho thấy
họ đã là một đứa con nổi loạn và
thất trung (x. Đnl 6,16; 17,2.7; ch. 32–34; Ds 14,22; các Tv: Tv
78,18-41; 81,11; 95,8; 96,6; các ngôn sứ: Gr 7,22; Ed 20,5; Is 63,10. Xem
các tác giả Tân Ước: Dt 3,16; Gđ 5). Quả
thật, ngôn ngữ của câu đầu đã khiến
chúng ta nhớ đến Đnl 8,2 (LXX) và như ám chỉ
đến hoàn cảnh của Israel tại hoang địa:
“… Thiên Chúa đã dẫn (êgagen; Mt: an-ago) …, như vậy
Người thử thách (ekpeirasê; Mt: peirasthênai)…”. Bản
văn Đnl nói rằng Thiên Chúa “thử thách” dân để
“biết lòng dạ anh em, xem anh em có giữ các mệnh
lệnh của Người hay không”. Còn ở đây, trong
bản văn Mt, “thử thách” là để phá hỏng và
kẻ “thử thách” là quỷ, chứ không phải là Thiên
Chúa. Tại hoang địa, Đức Giêsu vừa tóm
kết kinh nghiệm của Môsê và Êlia, vừa tóm kết
lịch sử của dân Israel trong hoang địa.
Sức con
người có thể nhịn ăn nhịn uống
được đến thế? Chắc chắn là có,
như trường hợp thánh Phanxicô Assisi sau này. Nhưng
ở đây, tác giả còn muốn nói một điều
khác: cũng như trong trường hợp Môsê, ở
đây chính Thiên Chúa nâng đỡ Đức Giêsu, vì
Người tin tưởng gắn bó với Thiên Chúa.
Nếu như thế, cảm giác đói sau bốn
mươi ngày, chính là một thử thách: Phải chăng
Thiên Chúa đã bỏ rơi Đức Giêsu? Cám dỗ
thứ nhất được tháp vào điểm này.
* Cám dỗ thứ
nhất (3-4)
Trong cám dỗ
này, quỷ thách thức Đức Giêsu lặp lại các
cử chỉ của Môsê, nhưng không phải bằng cách
làm mưa man-na, nhưng bằng cách rút bánh ra từ các
tảng đá. Đây cũng là một thách thức nhắm
vào tư cách Mêsia của Đức Giêsu. Từ ngữ
“nếu” nhằm gieo một sự hoài nghi vào tâm trí
Đức Giêsu (x. Mt 27,40). Trong cả hai trường
hợp, ở đây và trên thập giá, quỷ (ở
đây; trên đồi Sọ: quỷ hiện thân nơi
“những người qua lại”) thúc đẩy
Đức Giêsu sử dụng những quyền lực
thiên sai để thoát khỏi một hoàn cảnh nguy
hiểm (đói ở hoang địa; chết trên thập
giá).
Thiên Chúa đã
để cho Israel đi qua thử thách là cái đói,
để kiểm chứng lòng tín thác của họ (x.
Đnl 8,2-3). Họ đã lẩm bẩm kêu ca, tiếc
nuối Ai Cập. Đức Giêsu cũng cảm thấy
đói; Người có thể nghĩ rằng Thiên Chúa đã
bỏ rơi mình. Quỷ gợi ý cho Người, trong
tư cách là “Con Thiên Chúa”, tin vào quyền năng làm phép
lạ của mình, và như thế là xúi giục Đức
Giêsu nghi ngờ và bất phục tùng Thiên Chúa. Đức
Giêsu dứt khoát dựa vào Kinh Thánh (sách Đnl; gegraptai)
để nói “không” với quỷ; Người tiếp
tục cậy dựa hoàn toàn vào Thiên Chúa (x. 27,43). Sách Khôn
ngoan nói rằng: “Lời Ngài mới giữ gìn chăm sóc
những ai hằng tin tưởng vào Ngài” (Kn 16,26). Tin
Mừng Gioan cho thấy là lương thực mà Đức
Giêsu, Con Thiên Chúa, vẫn dùng chính là thi hành ý muốn của
Chúa Cha (x. Ga 4,34). Đấng Mêsia không có nhiệm vụ vun
trồng những ảo tưởng dễ dãi, nhưng
thức tỉnh niềm tin tưởng nơi Thiên Chúa.
* Cám dỗ thứ hai
(5-7)
Sau cám dỗ
thứ nhất, Đức Giêsu đã náu mình vào trong sự
che chở của Thiên Chúa. Với câu Tv 91,11, quỷ
đề nghị Người, vẫn trong tư cách “Con
Thiên Chúa”, gieo mình từ nóc Đền Thờ xuống
đất: đây hẳn là đáp lại sự chờ
đợi của dân chúng, vì họ được loan báo
là Đấng Mêsia sẽ xuất hiện trên núi Sion,
cũng được đồng hóa với Đền
Thờ (các sách ngụy thư Ét-ra IV [13,34-37]; Khải
huyền Barúc [40,12]). Dù sao đây cũng vẫn là xúi
Đức Giêsu vận dụng sự che chở của
Thiên Chúa vào hướng xấu, như Israel đã làm, khi
đòi hỏi Thiên Chúa can thiệp (x. Xh 17,1-7; Ds 14,22; Đnl
6,16; Tv 95,8-11). Đây chính là áp đặt ý muốn của
con người cho Thiên Chúa. Cùng một chiều hướng
như thế, trong Mt, có các truyện các đối thủ
Đức Giêsu xin những dấu lạ từ trời (12,38-42)
hoặc đề nghị Người xuống khỏi
thập giá (27,49); trong Lc, có giai thoại các môn đệ
muốn xin lửa xuống thiêu hủy thành không hiếu
khách (Lc 9,56). Đức Giêsu vẫn dứt khoát trả
lời “không”, bằng câu Đnl 6,16. Người không
muốn ép Thiên Chúa phải can thiệp khi mà Thiên Chúa không
định như thế; Người vẫn tiếp
tục tín thác vào Thiên Chúa.
Chúng ta ghi
nhận trong hai cám dỗ đầu, quỷ quy về
tư cách “Con Thiên Chúa”, như thế là xác nhận lời
công bố tại sông Giođan (x. 3,17).
* Cám dỗ thứ ba
(8-10)
Cám dỗ
cuối cùng không còn chút che đậy nào nữa: quỷ
đề nghị Đức Giêsu thờ phượng nó.
Cám dỗ này gồm tóm khát vọng cổ xưa nhất
của Israel (sở hữu đất Canaan). Để làm
thế, hẳn là nó bày ra trong trí của Đức Giêsu
tất cả quang cảnh các nước thế gian,
như xưa kia Môsê đứng trên đỉnh Nơvô mà
nhìn vào Đất Hứa (x. Đnl 31,1-4) và gợi ý cho
Đức Giêsu một giải pháp: bái lạy nó. Đây là
cám dỗ con bê vàng, muốn tự tạo cho mình một
thần linh mà mình có thể điều khiển.
Đức Giêsu vẫn dứt khoát nói “không”, bằng câu
Đnl 6,13: Thiên Chúa không phải là một Đấng mà
người ta có thể mặc cả với; Ngài đòi
hỏi tin tưởng và vâng phục vô điều
kiện. Dĩ nhiên, Đức Giêsu, Tôi Trung của Thiên
Chúa, không từ bỏ kế hoạch chinh phục thế
giới, nhưng chinh phục bằng thập giá.
Đất Hứa là lãnh địa bao la mà Người
sẽ nhận khi sống lại (x. 28,18: theo lời
hứa ở Tv 2,6-8). Sau này, chúng ta thấy các môn đệ
Người không hiểu được chọn lựa này
(Phêrô: Mt 16,23). Đức Giêsu sẽ chấp nhận cái
đói, các nỗi nhục nhã, những thất bại, cái
chết, để chu toàn ý muốn của Thiên Chúa.
* Kết (11)
Câu kết
của bản văn là một ghi chú thần học hơn
là một sứ điệp lịch sử. Sự thống
trị mà Đức Giêsu đã từ chối nay vẫn được
ban cho Người. Trong tâm thức dân gian, các thiên sứ là
những tôi tớ của Thiên Chúa (x. Mt 16,27), bây giờ
đến phục vụ Đức Giêsu, lệ thuộc
Người. Đức Giêsu không nhận một
vương quyền trần thế, nhưng chia sẻ
chính quyền thống trị của Thiên Chúa.
Rõ ràng
Nước Trời đã đến gần loài
người, bởi vì thiên triều đang vây quanh
Người Con yêu dấu của Thiên Chúa. Nhưng các thiên
sứ chỉ can thiệp sau khi Đức Giêsu đã
chiến thắng cám dỗ. Sau này, khi Người đã
thắng được cám dỗ muốn vận dụng
“hơn mười hai đạo binh thiên thần” (26,53)
để tránh thoát thập giá, khi Người vẫn phó
thác cuộc đời vào tay Chúa Cha, các thiên sứ lại
đến hầu hạ Người, qua việc loan báo tin
mừng Phục Sinh cho các môn đệ (x. 28,2-7).
+ Kết luận
Các cám dỗ
nhắm tấn công Đức Giêsu trong tư cách Mêsia và
Người Con vâng phục và trung thành của Thiên Chúa.
Quỷ xúi Đức Giêsu lạm dụng lời quyền
năng của Người, rồi xúi Người ỷ
lại vào quan hệ giữa Người với Thiên Chúa,
và cuối cùng, xúi Người bỏ đi lòng trung nghĩa
với Thiên Chúa. Chiến thắng của Người
rất quan trọng. Nó xóa đi những bóng tối đã
tích tụ lại trong lịch sử dân Thiên Chúa và nó
cũng gợi ra chiều hướng dấn thân phục
vụ ơn cứu độ. Thay vì chọn làm một
Mêsia-Phù thủy hay một Mêsia-Thủ lãnh, Đức Giêsu
chọn làm Mêsia-Tôi tớ khiêm nhường. Khi đó,
Người vẫn là Người Con vâng phục, và
cũng là Israel chân chính và hoàn hảo.
5.- Gợi ý suy niệm
1. Trung thành
đọc và suy gẫm Lời Chúa, chúng ta sẽ khám phá ra
liên tục lòng nhân ái của Thiên Chúa đối với chúng
ta. Từ đó, chúng ta có thể yên tâm phó thác cuộc
sống cho Ngài, không phải tính toán để bảo
vệ cuộc sống mình, để rồi rơi vào các
cám dỗ. Cám dỗ luôn luôn xoay quanh Lời Chúa, hoặc
để vi phạm hoặc để lái Lời Chúa
khỏi ý nghĩa đúng đắn. Con rắn mưu mô
trong St 3 đã bóp méo Lời Chúa: “Có thật Thiên Chúa bảo:
‘Các ngươi không được ăn hết mọi
trái cây trong vườn không? … ‘Chẳng chết chóc gì
đâu! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây
đó, mắt ông bà sẽ mở ra…” (St 3,1.5). Tên cám dỗ
trong bài Tin Mừng Mt đã bảo Đức Giêsu dùng
Lời Chúa để biến đá thành bánh hoặc đã
uốn nắn ý nghĩa của Thánh vịnh để
đưa Đức Giêsu đến chỗ thử thách
Thiên Chúa. Đức Giêsu không áp đảo Lời Chúa;
Người vâng phục Lời Chúa, Người nhận
Lời Chúa từ Thiên Chúa.
2. Quỷ đã
đề nghị cho Ađam trở thành Thiên Chúa (St 3,5). Nó
cũng gợi ý cho Đức Kitô sử dụng quyền
lực thiên sai của mình như một đặc quyền
hay như một vũ khí. Nói cho cùng, tội lỗi luôn luôn
là một ý chí hùng cường. Thế mà Thiên Chúa lại
cứu con người khỏi tội lỗi bằng
sự yếu đuối của Đức Kitô. Muốn
được Thiên Chúa can thiệp tức khắc vào
đời sống mình có nghĩa là nghi ngờ sự quan
phòng thông thường của Ngài, nghi ngờ quyền
năng và lòng nhân lành của Ngài. Ai thử thách Thiên Chúa, thì
không có đức tin hoặc có một đức tin
đang chao đảo, nên mới chờ đợi các phép
lạ.
3. Các cám dỗ
không chỉ là chuyện một ngày hay bốn mươi
ngày, mà là cả đời Đức Giêsu. Luôn luôn có
những sức mạnh bên ngoài, như các môn đệ (Mt
16,22), các kẻ thù (12,38; 27,41), và cả những khát
vọng của bản thân Người (26,39; 27,46) tìm cách
đưa Người đi theo nẻo đường
quỷ vạch ra cho Người. Người đã
chọn, Người sẽ phải liên tục chọn nói
“không” với quỷ và thưa “xin vâng” với Chúa Cha (x. Dt
5,8).
4. Đức
Giêsu nói “không” với quỷ, nhưng cũng phải nói
“không” với chính mình, bởi vì con đường
Người theo kềm hãm các khát vọng và những đòi
hỏi của bản tính tự nhiên. Các phản ứng
của Người trước đau khổ, những
tủi nhục, những thất bại, thì cũng
giống như mọi người. Người không
thể phạm tội, nhưng Người có thể
chọn con đường chung của mọi
người, là sự thỏa thuê. Vinh quang không phải là
một tội, mà còn là một quyền Người có
thể dùng. Sự rút lui của quỷ chứng tỏ
đây không những là một chiến thắng của
chủ trương Mêsia khiêm nhường và phục vụ
như tôi tớ, mà còn là một chiến thắng riêng
của Đức Giêsu. Người đã không nhường
bước cho một nẻo đường tiện nghi
thoải mái, đã không muốn hưởng trước
một thành công; nhưng Người đã tôn trọng con
đường đã được chọn cho
Người dù phải hy sinh, thiệt thòi. Rời khỏi
hoang địa, không những Người được
thánh hiến mà còn đủ tư cách Mêsia.
|