ĐOẠN
THỨ BA
ĐƯỜNG HƯỚNG HOẠT
ĐỘNG MỤC VỤ
Tại miền
chúng tôi ở (bên Ý) thấy quảng cáo công khai các
hoạt động ma thuật đầy dẫy nơi
công chúng, từ những bảng quảng cáo dọc các
đường lộ, trong niên giám điện thoại,
trong báo chí, qua làn sóng truyền thanh, truyền hình, cho
đến trong các sạp, các tiệm sách…(bên
VN chúng ta thì chưa đến nỗi)
Trước
một hiện tượng đã phát triển thành rộng
lớn như thế, đang đe dọa đức tin
chân chính của Kitô hữu được trao cho chúng tôi săn
sóc, dẫn dắt mục vụ, chúng tôi (các Giám mục)
thấy thúc bách phải tăng cường việc thông
tin, rồi làm cho dân chúng nhạy cảm trước
vấn đề, và sau cùng giáo hóa.
Quả là bất
hạnh khi thấy những người chạy
đến nhờ cậy các pháp sư và các thuật sĩ
huyền bí, thường đại đa số lại là
Kitô hữu thuộc các cộng đoàn chúng ta. Niềm tin
của họ đã trở nên yếu ớt và lu mờ đến nỗi họ không còn
nhận thấy mê tín dị đoan, ma thuật và tôn sùng
Satan là điều phản nghịch triệt để
với đức tin Kitô giáo. (x. chú thích
dưới cuối, số 30)
a/ Phúc
âm hóa (Hiểu và sống Phúc Âm)
Vậy phận sự
đầu tiên của chúng ta là phải tăng cường
việc Phúc âm hóa tín hữu thuộc mọi tầng lớp
xã hội, thuộc mọi lứa tuổi, bởi vì não trạng ma thuật bắt
rễ và phát triển dễ dàng hơn ở nơi nào
thiếu sót sự hiểu biết về đức tin.
- Tin Mừng sẽ làm cho
hiểu biết Thiên Chúa, Đấng đã tự mặc
khải và tự hiến một cách hoàn toàn tự do trong
Đức Giêsu Kitô, vì yêu thương nhân loại vô
điều kiện.
- Thiên Chúa đã nói và đã làm
xong tất cả trong Chúa Kitô, Đấng được
lập làm “con đường” và “cửa” dẫn tới
thế giới thần linh hạnh phúc của Thiên Chúa.
Không có ai khác có thể đem ơn cứu thoát đến
cho ta :
“Đức
Kitô, Đấng Cứu Thế, là trung gian độc
nhất giữa Thiên Chúa và loài người” (1Timôtê 2.5), “và không có Danh (danh tức là người) nào
dưới gầm trời này để nhờ Danh đó
mà chúng ta được cứu thoát” (Công vụ 4.12)...
- “Nơi Đức
Giêsu Kitô, Thiên Chúa không chỉ nói với loài người, mà
còn tìm kiếm họ... Tại sao tìm kiếm họ
? Vì họ đã lìa xa Người” (Trích lời
Đức Giáo Chủ Gioan-Phaolô II, Tông thư
: “Thiên niên kỷ thứ ba đang tới”, số 4 và
7).
- Trong Đức Kitô, Thiên Chúa
Cha đã cho chúng ta mọi sự và đã nói hết mọi
sự. Không còn phải đợi trông gì
từ phía Thiên Chúa những mặc khải nào khác nữa.
- Đời sống đức tin không cần
những điều kỳ diệu lạ lùng nhiều hay
ít, và không nên chờ đợi những chuyện siêu nhiên trên
trời đột nhập trần gian cách dễ dãi. Thánh
Phaolô đã căn dặn: “Vì chúng ta bước
đi nhờ lòng tin chứ không phải nhờ
được thấy...” (2 Corintô 5.7)
Tin là phú thác
đời sống mình vào tay Thiên Chúa, nhờ lãnh
nhận “Sự Sáng thật” (Gioan 1.9) từ Người ban
cho, ánh sáng ấy rọi vào u tối của ta, và cho ta
khả năng tiến bước mà không sợ sa vào
những con đường tối tăm, lầm lạc.
- Từ đấy, việc
của con người là đáp lại lời mời
gọi của Thiên Chúa, nhờ biết cách đọc
những mời gọi của Người trong các biến
cố cuộc sống họ, trong các con người
họ gặp, trong những hoàn cảnh mà hằng ngày
họ va chạm.
· Những
cái giúp ta chống lại cách hiệu quả nhất các
độc hại của những thực hành ngụy tôn
giáo và ngụy đạo đức, đó là :
+Nghe rao giảng đạo lý
và đức tin chân thật ;
+sống kinh nghiệm ơn
cứu độ nhờ các Bí tích ;
+mối
dây đoàn kết huynh đệ và liên đới trong
cộng đoàn ;
+dấn thân tận tụy phục vụ anh
chị em khác vì tình thương.
Đồng thời, chúng tôi
căn dặn những giáo lý viên hãy ra sức dạy giáo lý
cẩn thận cho giới trẻ, hầu ngăn ngừa
những ma lực cám dỗ của những môn “huyền
bí” làm lệch lạc lương tâm và ý thức của
họ.
b/ Canh
phòng
Phận sự
của chúng ta còn phải canh
chừng các tâm tình tôn giáo và những cách thực hành, qua
đó các tín hữu diễn tả lòng tin của họ.
Một não trạng thiên về
mê tín có khả năng làm hư hại ngay cả những
“việc thờ phượng mà chúng ta dâng lên Thiên Chúa chân thật ! Chẳng hạn một vài việc
hành đạo, tự bản chất là chính đáng,
hợp pháp và cần thiết, nhưng người ta
lại gán cho chúng một tầm quan trọng có mầu
sắc ma thuật ; hay những lời
kinh và các dấu Bí tích được sử dụng như
thể chúng tự động có một hiệu lực ma
thuật, [i] mà không
đòi buộc đương sự phải có những tâm
tình tin yêu cần thiết, đó là rơi vào mê tín dị
đoan rồi” (CEC, số 2111).
Một cách đặc biệt,
phải hết sức thận trọng về những hình
thức đạo đức bình dân và các cuộc hành
hương, nhất là được tổ chức đi
đến những nơi mà người ta đồn có việc hiện ra hay có những
hiện tượng khác lạ (ví dụ :
Ảnh tượng Chúa hay Đức Mẹ khóc, chảy
nước mắt máu…) [ii]
Chúng tôi cũng kêu gọi
những nhóm hay những phong trào hội họp một
nơi để gặp gỡ, trao đổi, cầu
nguyện hay lo chuyện thiêng liêng, cố tránh những cử chỉ có thể gây
ngộ nhận, dị nghĩa, và có xu hướng
đề cao tính cách vật chất của những nghi
thức (như đặt tay, công thức giải thoát,
v.v...) [iii];
và cũng phải coi chừng vấn đề tâm lý quần chúng dễ bị
khích động khi hội họp chung với nhau.
c/ Đón tiếp
Những thân chủ của
thế giới “đen”, của các mê tín dị đoan và ma
thuật không chỉ là những người nghèo nàn về
mặt văn hóa và đức tin. Đôi khi sự nghèo nàn còn sâu xa hơn
thế nhiều, nghĩa là trước những
biến cố quan trọng trong cuộc đời,
biết bao người không biết cậy dựa vào
đâu để giải quyết.
Nhưng dù thế nào đi
chăng nữa, chúng ta đều biết rằng : không
thể nào lại đương đầu với sự
ác, đau khổ, thất bại và sự chết bằng
cách chạy đến nhờ cậy quyền lực ma
thuật, huyền bí, nhờ các pháp sư môi giới, hay
tham gia vào những nhóm tôn giáo bí truyền màu sắc “đông
phương”. Chẳng khác nào “tránh vỏ
dưa, lại gặp vỏ dừa”.
Vì thế, những
người mất phương hướng trước
các bí nhiệm của cuộc đời ấy, cần
được chúng ta trước tiên tiếp đón, nghe họ, soi sáng cho họ, nâng
đỡ họ bằng tình liên đới và sự
lưu tâm của cả cộng đoàn, để họ
vượt thắng những hoàn cảnh khắc khoải,
xao xuyến, sợ hãi và bất ổn về tương
lai hậu vận.
đ/ Huấn
giáo
Chúng tôi kêu gọi các giáo xứ hãy chuẩn
bị sao để sẵn sàng tiếp đón những
người đã thực hành ma thuật, để cho
họ thấy bằng chứng mạnh mẽ rằng
tất cả các phương thế có sẵn trong Hội
Thánh đều có sức cứu độ :
nào Lời Chúa, các Bí tích (cách riêng phép Xá giải và phép Thánh
Thể), cầu nguyện, niềm thông hiệp huynh
đệ, phục vụ nhau trong tình bác ái...
Huấn
giáo hoặc trình bày đức tin một cách có hệ
thống là đặc biệt quan trọng :
-
Hãy nhấn mạnh về sự
tốt lành của mọi sự, mọi loài trong tạo
thành ;
-
Quyền Chủ Tể tuyệt
đối của Thiên Chúa, là Đấng Tạo Thành và là
Cha ;
-
Tinh thần các mối phúc ;
-
Việc cứu chuộc và canh tân
mọi sự nhờ bởi hiến tế thập giá và
vinh thắng phục sinh của Chúa Kitô trên tội lỗi
và ma quỉ ;
-
Viễn tượng về
Nước Thiên Chúa cánh-chung đang đến, và mọi
người, mọi vật đều phải qui phục,
ngõ hầu Thiên Chúa là tất cả trong mọi
người.
Vì biết rằng khi gặp
đau đớn thể xác và tâm thần, nhiều người
dễ bị thúc đẩy tìm giải thoát nơi những
tay thực hành thuật huyền bí, nên rất cần phải
soi sáng cho tín hữu biết giá trị của thập giá
(tức là biết chấp nhận cách vui lòng những khổ đau)
để đạt tới ơn cứu độ. Đức
Giáo Chủ Gioan-Phaolô II, trong bài “Đau Khổ Cứu Rỗi”,
số 26, viết : “Người người tự hỏi
đau khổ có ý nghĩa gì, và họ đã đi tìm lời giải đáp theo mặt
nhân loại. Họ đã nhiều lần hỏi Thiên Chúa về
điều ấy, cũng hỏi cả Đức Kitô nữa...
Thực ra, Đức Kitô không trả lời
trực tiếp hay một cách trừu tượng, cho câu hỏi
của loài người về ý nghĩa sự đau khổ.
Người ta sẽ nghe dần dần câu trả
lời có sức cứu
rỗi của Ngài, mỗi khi họ chấp nhận chia sẻ
các đau khổ của Đức Kitô.” “Quả thế, nhờ Đức
Ki-tô, anh em đã được phúc chẳng những
là tin vào Người, mà còn được chịu đau khổ vì Người.” (Philiphê 1:29), bởi
vì “một khi cùng chịu
đau khổ với Người, chúng ta sẽ
cùng được hưởng vinh quang với Người.”
(Rm 8.17).
e/ Thánh
hóa
Việc chữa
lành thiêng liêng cho tâm hồn người nào quay về
với Chúa, sẽ thể hiện nhờ bởi lòng
thương xót mà Chúa Cha đổ xuống trên ta qua Con
của Người (x. Ephêsô 2.1-6). Mà ơn cứu
độ của Đức Kitô thì được thông
truyền cho nhân loại bởi quyền năng Chúa Thánh
Thần, qua các Bí tích : Các Bí tích nhập
đạo (Phép Rửa, Phép Thêm Sức, Phép Thánh Thể), các
Bí tích chữa lành (phép Xá giải và xức dầu bệnh
nhân) và các Bí tích xã hội (Truyền chức và Hôn phối).
Nhờ Lời Chúa và các Bí tích,
Hội Thánh chu toàn sứ vụ “làm Bí Tích phổ quát về
ơn cứu độ cho hết cả loài người”
(Hiến Chế : Ánh sáng muôn dân, số
1). Trong mỗi cộng đoàn Kitô giáo, ở đó
người ta nghe loan báo về Chúa Kitô và phụng sự
Ngài, công cuộc cứu chuộc loài người
đều được thực hiện.
g/ Chúc
lành
Nằm trong số các hoạt
động bí tích của Hội Thánh, còn có những nghi thức chúc lành, “chúng biểu thị
sự huy hoàng, phong phú của ơn Cứu Độ
của Đấng Phục Sinh, vốn từ nay hiện
diện trong lịch sử như một nguyên lý mới làm
cho đời sống nhân loại và cả vũ trụ
được biến đổi. ‘Chúc lành’ quả
thực là một hành động có tính bí tích do Hội Thánh
làm, trong đó lộ rõ ra lòng tin vào sự hiện diện
và hoạt động của Thiên Chúa trong thế giới,
và vào sự vinh thắng phục sinh của Chúa Giêsu”.
Sách Nghi thức mới của
phụng vụ Giáo Hội cho ta một số những công
thức chúc lành (hay cũng gọi là “làm phép”) cho
người, cho những nhóm gia đình, cho các nơi ở
hoặc nơi làm việc, cho các vật dụng cũng
như cho những hoạt động khác nhau của con
người.
Nhưng nếu người ta
không hiểu đúng sách “Làm các phép”, sẽ có thể gây ra
một thái độ ma thuật và mê tín, nghĩa là coi sách
đó như là một bí kíp ban phát những bùa chú, hay pháp
thuật tự động phát sinh hiệu quả,
chẳng cần cầu nguyện và lòng tin gì cả. Vậy
phải hiểu cho đúng tinh thần của nó và theo sát
cẩn thận các nghi thức của nó, cốt yếu là
nó nhằm làm tăng trưởng đức tin và niềm
xác tín rằng Thiên Chúa Cha tỏ lòng ưu ái và ban phép lành cho
ta và mọi vật liên quan đến ta.
h/ Phép
trừ quỉ
Không hiếm người đi
đến các tay pháp sư, phù thủy và
thuật sĩ huyền bí để xin được
giải thoát khỏi những ảnh hưởng mà họ
cho là của ma quỉ, hoặc do bùa ngải hay bị
thư ếm... Kết quả thế nào ?
Kết quả là các vấn đề lại thêm phức
tạp và trầm trọng về sau...
Việc bùa ngải, thư ếm, (xem chú thích 27 dưới
cuối), đều là những hành động mà chỉ
những kẻ có lòng tin yếu ớt và ngây thơ
mới mắc phải, dẫu vậy chúng gây ra những
lệch lạc nghiêm trọng cho tâm hồn họ.
Đến xin quyền lực
ma thuật, phù phép can thiệp giúp mình thực là chuyện vô cùng nguy hiểm,
bởi vì Satan thực tế có khả năng gây ảnh
hưởng trên con người bằng hành động
thông thường là cám dỗ và còn bằng hành
động ngoại thường mà Thiên Chúa cho phép trong
một vài trường hợp (Xem trình bày ở chú thích 8
dưới cuối). Vả lại, làm sao người ta
lại chạy đến nhờ cậy pháp sư
để mong được giải thoát khỏi ảnh
hưởng và khống chế của ma quỉ, như
thế chẳng khác gì “nhờ
quỉ mà trừ ma”, chẳng lẽ họ đã quên
lời Đức Giêsu nói : Satan không xua
trừ Satan đâu : “Bất
cứ nước nào tự chia rẽ, thì sẽ điêu
tàn… Nếu Xa-tan trừ Xa-tan, thì Xa-tan tự chia rẽ:
nước nó tồn tại sao được
?” (Matthêu 12.25-26).
Chỉ có một
cách là chạy đến nhờ quyền năng của Thiên
Chúa, mà chính Đức Giêsu đã thi hành thời sứ
vụ ở trần gian:
“Nếu Tôi cậy vào Thần khí của Thiên
Chúa mà trừ quỷ, thì quả là Nước Thiên Chúa
đã đến giữa các ông.” (Matthêu 12.28).
Và
Chúa Kitô đã ban cho các Tông Đồ và các môn đệ
quyền năng trừ tà ấy. Vì thế
:
Càng ngày càng
nhiều những trường hợp người ta
chạy đến cùng linh mục để xin ngài trừ
quỉ cho, sau khi đã nhiều phen thử nhờ cậy
các phù thủy và pháp sư mà chỉ gặt được
những kinh nghiệm độc hại.
Hành động mục vụ
giải thoát của linh mục sẽ chẳng cậy vào
sự gì khác, ngoài niềm xác tín rằng :
Hội Thánh làm cho sự vinh thắng của Chúa Kitô trên ma
quỉ và tội lỗi được hiện diện và
tác động hiệu lực lúc này.
Tuy vậy, nên nhớ
: Quyền lực cứu độ của Chúa Kitô
thi triển hết hiệu
năng trong các Bí Tích, chứ không phải trong việc
trừ quỉ. Vì thế ảnh hưởng
độc hại nhất, cũng như tiêu cực
nhất mà ma quỉ gây ra cho người ta, là khi nó lôi kéo
họ vào tội lỗi, chứ không phải là khi nó ám hay
nhập vào họ.
Chống lại ảnh
hưởng ma quỉ, việc trừ tà không là liều
thuốc ở trên hết và mạnh hơn hết. Liều thuốc
này, người ta phải tìm ở đâu ?
Thưa : Ở trong một
đời sống dấn thân và gắn bó với Chúa Giêsu,
trong cuộc sống tình huynh đệ giữa cộng
đoàn Giáo Hội, trong việc siêng năng lãnh các bí tích,
trong việc cầu nguyện sốt sắng và liên lỉ,
trong sự chăm chỉ nghe Lời Chúa mà sẵn sàng vâng
theo. Chẳng phải Thánh Gioan đã gói ghém trong một câu
rất hàm súc này sao : “Chúng ta biết rằng phàm ai đã
được Thiên Chúa sinh ra (tức
là được tái sinh bởi Phép Rửa), người đó không
phạm tội ; nhưng có Đấng Thiên Chúa đã sinh ra
(tức là Chúa Giêsu) giữ gìn người ấy,
và Ác thần không đụng đến người ấy
được.” (1 Gioan 5.18)
Một việc trước
tiên phải làm, khi tiếp xúc kiên trì và vô vị lợi
với những người nghĩ mình bị quỉ ám, là
sẽ tìm hiểu xem có thực đấy là trường
hợp có ma nhập, quỉ ám
thật hay chỉ là những bệnh thần kinh
(như suy nhược thần kinh quá độ, tinh
thần bị tổn thương, mát, mất trí,
động kinh, khùng điên, loạn óc, v.v...). Cần mời các bác sĩ và chuyên gia, hoặc tâm
lý trị liệu gia cùng cộng tác với linh mục
để có thể phân biệt đâu là bệnh tâm
thần, đâu là quỉ ám. Nhưng
tốt nhất những người này phải là những
người “có ý thức về những thực tại
thiêng liêng” (Nghi thức trừ quỉ “ad interim”, số 16).
i/ Can
thiệp của Hội Thánh
Chỉ có quyền lực
của Thần khí Thiên Chúa mới trừ được
quỉ, chữa được bệnh tật, như chúng
ta đã nghe Chúa Giêsu tuyên bố trên đây :
“Nếu
Tôi cậy vào Thần khí của Thiên Chúa mà trừ quỷ,
thì quả là Nước Thiên Chúa đã đến giữa
các ông.” (Matthêu 12.28).
Bởi vậy, Người nói
với các môn đệ là Người ra đi (chịu
chết và về cùng Chúa Cha) là để sẽ sai Thần khí, Đấng Phù Trợ, từ
Cha đến : “Ngài sẽ chứng minh thế gian sai lầm về
tội lỗi,... về việc xét xử : vì Thủ lãnh
thế gian này đã bị xét xử rồi” (Gioan 16.7-11).
Và Chúa Giêsu công bố sự
thất bại của Tên Thù : “Giờ đây Thủ lãnh thế
gian này sắp bị tống ra ngoài !” (Gioan
12.31). Rồi quả quyết : “Thầy đã thấy Xa-tan
như một tia chớp từ trời sa xuống.” (Luca 10.18).
Và Chúa Kitô đã ban cho các Tông
Đồ và các môn đệ khác quyền năng ấy
của Thần khí để trừ tà và chữa bệnh
trong khi thi hành sứ vụ :“Rồi Đức Giê-su gọi
mười hai môn đệ lại, để ban cho các ông
quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ
chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền.”(Matthêu
10.1; Luca 9.1; Máccô 3.13-15; 6.7; Luca 10.17).
Không chỉ ban cho các Tông đồ
và môn đệ ưu tuyển, Chúa còn rộng ban,
nhất là từ sau Phục Sinh, cho cả những
kẻ tin được quyền làm các dấu lạ,
trong số đó có việc “trừ quỉ” nữa : "Những dấu lạ này
sẽ đi theo những người có lòng tin : nhân danh Thày
họ sẽ trừ quỷ…" (Máccô 16.17; xem Công vụ 5.16; 8.6-7;
16.18; 19.12).
“Phép trừ tà nhằm xua đuổi
ma quỉ hoặc giải thoát khỏi ám ảnh của
chúng, nhờ quyền uy thiêng liêng mà Chúa Kitô đã trao ban cho
Hội Thánh” (CEC, số 1673). Kể từ đó,
người trong Hội Thánh luôn luôn vẫn thi hành quyền
năng do Chúa Kitô ban mà trừ quỉ, và đẩy lui các
ảnh hưởng độc hại của chúng ; cũng
luôn cầu xin với lòng trông cậy, nhân danh Chúa Giêsu,
để được “cứu khỏi kẻ Dữ”
(Lời cầu xin cuối cùng của Kinh Lạy Cha, Matthêu
6.13). (Trích sách Nghi thức trừ quỉ...,
số 6-7).
Thật vậy, việc thi hành
cách công khai
chức vụ trừ quỉ ấy, được dành cho
các Giám mục và linh mục nào được các ngài ủy
nhiệm (Giáo luật, số 1172). Giáo luật tuyên bố
rằng không ai được làm việc trừ quỉ
nếu chưa được Đấng Bản quyền
sở tại ban phép đặc biệt và rõ ràng (Giáo
luật số 1172, đoạn 1), và còn ấn định
rằng phép ấy chỉ do Đấng Bản quyền
sở tại ban cho vị linh mục nào trổi trang
về đạo đức, về kiến thức,
về khôn ngoan và đời sống liêm khiết (Giáo
luật trên, đoạn 2).
(Hình bên :
Thánh Phanxicô đờ Borgia đang tiến hành việc
trừ quỉ).
Căn cứ vào điều
khoản này, kỷ luật Giáo Hội đã nhắc
nhở về một quan niệm thấy càng ngày càng
phổ biến cho rằng “ai đã chịu phép Rửa
tội đều là một
nhà trừ quỉ” ; và trong một số những
đoàn thể trong Giáo Hội, người ta hội
họp nhau để trừ tà, thì quan niệm và cách làm
ấy không hợp pháp, và nhất là “cũng không
được phép dùng công thức trừ quỉ rút ra
từ công thức được Đức Giáo Chủ Lêô
13 công bố, và càng không được phép dùng toàn bản
văn của việc trừ quỉ ấy” (Thư của
bộ Giáo lý Đức tin : “Inde ab aliquot annis”, năm 1985,
số 2).
Xem thế, về
việc trừ quỉ, Hội Thánh tỏ ra rất
thận trọng. Bởi bản chất và ý
nghĩa, việc trừ quỉ chỉ đích thật trong
những trường hợp quỉ ám được xác
định chắc chắn. Những
trường hợp như thế là trầm trọng
nhất, nhưng cũng
họa hiếm xảy ra nhất. “Nếu
không thấy rõ ràng những dấu hiệu của ma quỉ
can thiệp (vị linh mục) không được làm phép
trừ quỉ” (Nghi thức trừ quỉ..., số 16).
Có lẽ
vì quá thận trọng, quá kỹ lưỡng cho nên trong Giáo
Hội không mấy ai dám nhận chức vụ trừ quỉ
nữa, thành ra cánh đồng này coi như bị bỏ
hoang cho ma quỉ hoành hành, vì thế cha G.Amorth, trong quyển
“Nhà trừ quỉ”, có lời than phiền về sự kiện
:
“Ngày nay
Giáo Hội Công Giáo đã quá lơ là với sứ mạng
đặc biệt này (việc trừ quỉ), và bởi
đó con cái Giáo Hội không chạy lại với Thiên Chúa
nữa (nhờ các vị đại diện Người là
các linh mục, để tìm sự giải thoát), nhưng là
tìm đến với Satan. Việc chạy đến với
các phù thủy, thày cúng, kẻ bói bài, thầy bùa thầy ngải
ngày càng gia tăng; chỉ có rất ít các nạn nhân chạy
đến cùng các nhà trừ quỷ (của Giáo Hội) và
thường là sau khi đã chịu đau khổ dưới
tay “những kẻ khác”. Chúng ta đang chứng
kiến sự ứng nghiệm những lời trong Kinh
Thánh liên quan đến Vua A-khát-gia. Trong
lúc vua bị bệnh nặng, ông đã sai sứ giả
đi cầu vấn Ba-an-dơ-vúp (vua các loài quỷ!), thần
của dân Êc-rôn, để hỏi cho biết số phận
tương lai. Tiên tri Ê-li-a đã chặn các sứ giả
này và hỏi họ : "Ở Ít-ra-en không có Thiên Chúa hay sao mà các
ngươi đi hỏi thần Ba-an-dơ-vúp ?" (2Vua 1, l-4).
Để đáp ứng
những nhu cầu của các tín hữu bị những
rối loạn tâm linh loại ấy làm khốn, nên
đặt ra trong toàn giáo phận một vài linh mục
được Đức Giám mục ủy nhiệm
quyền thường xuyên để chu toàn chức vụ
ấy, cách riêng tại những nhà thờ hay Thánh
đường rất đông người lai vãng.
Chức vụ trừ quỉ
phải được thi hành trong
bối cảnh mục vụ chung
của toàn Giáo phận. Mong ước chớ gì các giáo
phận hay Tổng giáo phận làm sao thiết lập
được những trung
tâm tham vấn hay cố vấn gồm các linh mục và
chuyên gia có khả năng định hướng thiêng liêng
hay biết phân biệt rành rẽ cho những người
có nhu cầu.
Khi một giáo phận không có
được những vị (linh mục) riêng để
làm chức vụ trừ quỉ, các Giám mục có thể
đồng ý ủy nhiệm cho một số linh mục
chức vụ trừ quỉ chung cho liên
địa phận.
Các linh mục được
ủy nhiệm việc trừ quỉ, phải theo hạn kỳ báo cáo bằng giấy
viết về các hoạt động của các vị,
phải sử dụng các sách Phụng vụ về
việc ấy, đã được phê chuẩn và đang
thông dụng trong Hội Thánh. Còn nữa, mỗi năm,
dưới sự chủ tọa của Giám mục, sẽ
tổ chức một cuộc gặp mặt trong miền
để lượng giá cho đúng, để trao
đổi thông tin và để có một mục vụ
hiệp nhất đường lối.
***
[ii] Đây là vài
ví dụ về những hình thức đạo đức
bình dân : ngắt hoa lá ở đó về nấu làm như
thuốc chữa bệnh ; lấy khăn tay lau hay chạm
vào ảnh tượng hay vật được coi là thánh
thiêng, đem về dùng để chữa lành, để phù
hộ v.v… Đành rằng nếu có lòng tin thật, thì
những cử chỉ đó có thể là phương
tiện Thiên Chúa dùng để làm phép lạ cứu
chữa, nhưng thông thường những cái đó dễ
bị sử dụng như một thứ bùa phép, “như thể chúng tự
động có một hiệu lực ma thuật, mà không
đòi buộc đương sự phải có những tâm
trạng tin yêu cần thiết” và Giáo luật bảo : “đó là rơi vào mê tín dị
đoan rồi” (CEC, số 2111).
[iii] Nhưng cũng đừng hàm hồ vơ đũa
cả nắm, kết án bừa bãi những cử chỉ và
nghi thức đó khi chưa kịp phân biệt trắng
đen… hay vàng thau lẫn lộn… Muốn tránh dị
nghĩa và ngộ nhận, tốt nhất là phải
giải nghĩa trước cho rõ.
|