MeMaria.org
Radio Giờ Của Mẹ - Giờ Bình An - Giờ Tin Yêu - Giờ Hy Vọng
(714) 265-1512. Email: Kim Hà
banner
Skip Navigation Links.
Expand <span onmouseover='TreeView_ToggleNode_Hover(this)' onmouseout='TreeView_ToggleNode_Out(this)'>Tài Liệu Về Đức Mẹ</span>Tài Liệu Về Đức Mẹ
Expand <span onmouseover='TreeView_ToggleNode_Hover(this)' onmouseout='TreeView_ToggleNode_Out(this)'>Đức Mẹ Việt Nam</span>Đức Mẹ Việt Nam
Lòng Thương Xót Chúa
Mục Bác Ái / Xin Giúp Đỡ Vn
Expand <span onmouseover='TreeView_ToggleNode_Hover(this)' onmouseout='TreeView_ToggleNode_Out(this)'>Tiểu Mục</span>Tiểu Mục
Expand <span onmouseover='TreeView_ToggleNode_Hover(this)' onmouseout='TreeView_ToggleNode_Out(this)'>Đề Mục Chính</span>Đề Mục Chính
Gallery
Expand <span onmouseover='TreeView_ToggleNode_Hover(this)' onmouseout='TreeView_ToggleNode_Out(this)'>Tác Giả Và Tác Phẩm</span>Tác Giả Và Tác Phẩm
Google Search
memaria www  

Local Search
PayPal - The safer, easier way to pay online!
top menu :: mẹ maria
Thay đổi kích cỡ chữ đọc:
  
Chuyện Người Hành Hương (19 Hết)
Thứ Bảy, Ngày 13 tháng 7-2013

Chuyện Người Hành Hương (19)

Nguyên tác: Một Kitô hữu Nga

Biên dịch: Nguyễn Ước

PHỤ LỤC

Phần Phụ Lục này gồm bốn mục.

1. Văn kiện của Thánh Công đồng Vatican II về vấn đề hiệp nhất. Công Đồng Chung là cơ quan lập pháp và giáo huấn tối cao của Giáo hội và là bản thân Giám Mục Đoàn. Vì thế, những sắc lệnh giáo lý của công đồng đều có thẩm quyền và giá trị bất khả ngộ.

Phần chúng tôi trích, liên quan tới Giáo hội Đông phương.

Sự phân ly giữa hai giáo hội Tây phương và Đông phương xảy ra năm 1054 khi Đặc sứ của Đức Giáo hoàng, Hồng Y Humbert dứt phép thông công Thượng phụ Conxtantinốp là Micae Cerulariô; đáp lại, Thượng phụ Cerulariô cũng dứt phép thông công vị Đặc sứ đó và tách khỏi La mã. Sự cắt đứt này trở thành toàn diện và dứt khoát vào thế kỷ XIII.

Ngày 7 tháng 12 năm 1965 tại Vatican, Đức Giáo hoàng Phaolô VI và tại Conxtantinốp (Istambul), Đức Thượng phụ Athenagoras đã long trọng hủy bỏ sự dứt phép thông công nhau ấy. Từ đó đến nay, cả hai Giáo hội đang ngày càng đại kết vì thuộc phần Nhiệm Thể Chúa Kitô.

2. Các chú thích cho những từ vựng có đánh số A rập, để làm sáng tỏ thêm chi tiết.

3. Tiểu sử của các Giáo phụ và một số nhà văn tâm linh được nhắc tới trong sách này. Chúng tôi cố gắng giới thiệu ngắn gọn và trong khả năng sưu tầm tài liệu hạn hẹp của mình.

4. Bản đồ lộ trình của người hành hương.

Chúng tôi ao ước nhận sự góp ý của độc giả về mọi mặt, đặc biệt những sai sót, để lần tái bản được đầy đủ.

N.Ư.

PHỤ LỤC 1

Khóa V
Ngày 21 tháng 11 năm 1964

SẮC LỆNH VỀ HIỆP NHẤT
Unitatis Redintegratio

(trích)

"Các Giáo hội Đông phương từ khởi đầu đã từng có một kho tàng cống hiến cho Giáo hội Tây phương nhiều yếu tố về phụng vụ, về truyền thống tu đức và luật pháp.

...Di sản do các Tông Đồ truyền lại đã được đón nhận qua nhiều hình thức và cách thế khác nhau, do đó, ngay từ thuở ban đầu của Giáo hội, di sản ấy cũng được giải thích khác nhau đây đó tùy theo thiên tài và cách sống riêng." (Số 14)

"Vì các Giáo hội ấy, mặc dù ly khai, vẫn có các bí tích đích thực nhờ sự kế vị các Tông đồ, nhất là Chức Linh mục và Phép Thánh Thể, bởi đó, họ còn liên kết chặt chẽ với chúng ta; cho nên, một vài hình thức thông dự vào sự thánh, trong những trường hợp thuận tiện và với sự chấp thuận của giáo quyền, chẳng những là việc có thể thực hiện mà còn đáng khuyến khích nữa.
Ở Đông phương cũng còn thấy có nhiều truyền thống tu đức phong phú, tiêu biểu nhất là đời sống đan viện, vì tại đây, nền tu đức đan viện đã phát triển ngay từ thời vàng son của các Thánh Giáo phụ, và về sau, còn lan tràn sang nhiều nơi ở Tây phương. Định chế dòng tu La tinh phát xuất, và sau đó, không ngừng nhận được sinh lực mới từ nền tu đức ấy như từ nguồn mạch của mình. Vì vậy thiết tha kêu mời những người Công giáo hãy năng tìm đến kho tàng thiêng liêng của các Thánh Giáo phụ Đông phương hơn vì các kho tàng ấy nâng toàn thể con người đến chỗ chiêm ngưỡng những sự thần linh.

Mọi người đều biết rằng: thông hiểu, kính trọng, giữ gìn và phát triển di sản phụng vụ và tu đức rất phong phú của các tín hữu đông phương là việc tối quan trọng để trung thành bảo toàn truyền thống Kitô giáo và để thực hiện sự giao hòa các Kitô hữu đông phương với tây phương." (Số 15)

"Thực thế, trên đường đi tìm chân lý mạc khải, ở đông cũng như ở tây phương, có nhiều phương pháp và tiến trình khác nhau để nhận thức và tuyên xưng những sự thần linh. Do đó, không đáng ngạc nhiên khi thấy có vài khía cạnh của mầu nhiệm mạc khải đôi khi được một bên hiểu đúng và trình bày sáng sủa hơn bên kia, thành thử những công thức thần học khác nhau ấy phải được coi là bổ túc hơn là đối lập nhau. Còn về những truyền thống thần học chân chính của các tín hữu đông phương, phải công nhận là chúng ăn rễ cách tuyệt hảo trong Thánh Kinh, lại được khai triển và biểu hiện trong đời sống Phụng vụ, được nuôi dưỡng bằng truyền thống Tông đồ, sống động trong các văn phẩm của các Thánh Giáo phụ Đông phương cũng như các tác giả tu đức, chúng giúp xây dựng một cuộc đời chính trực và giúp chiêm ngưỡng đầy đủ chân lý Kitô giáo.
Tạ ơn Chúa vì nhiều tín hữu đông phương con cái Giáo hội Công giáo đang sống hoàn toàn hiệp thông với các anh em thuộc truyền thống Tây phương, mà vẫn giữ gìn và tha thiết sống phần gia sản ấy cho tinh ròng và đầy đủ hơn. Thánh Công đồng này tuyên bố rằng: toàn bộ di sản tu đức và phụng vụ, kỷ luật và thần học trong các truyền thống ấy thuộc về đặc tính công giáo và tông truyền trọn vẹn của Giáo hội." (Số 17)

"Đàng khác, người công giáo cần phải vui mừng nhìn nhận và tôn trọng những giá trị thật sự Kitô giáo, xuất phát từ cùng một gia sản chung được tìm thấy nơi các anh em ly khai. Nhìn nhận những kho tàng phong phú của Chúa Kitô và những hoạt động của quyền lực Người trong đời sống của những kẻ đang làm chứng về Người - có khi phải đổ máu mới nói lên được - quả là chính đáng và có giá trị cứu rỗi: vì Thiên Chúa luôn đáng khâm phục và việc Ngài làm bao giờ cũng kỳ diệu." (Số 4)

Bản dịch của Giáo Hoàng Học Viện PiÔ X
Chuẩn ấn, Đàlạt, 7.7.1972.

Simon-Hòa Nguyễn văn Hiền

Phụ Lục 2

Chú thích

1. Hãy cầu nguyện không ngừng. Thư Thứ nhất của Thánh Phaolô gởi Tín hữu Thêxalônica, chương 5, câu 17.

2. Starets. Tiếng Nga. Người linh hướng, tôn sư. Một đan sĩ được tôn kinh nhờ lòng mộ đạo sâu xa, kinh nghiệm lâu năm trong cuộc sống tâm linh và được ban ơn sủng hướng dẫn các linh hồn khác. Giáo dân thường tìm tới các vị linh hướng này để được hướng dẫn về tâm linh. Tại các đan viện, một tu sinh tân tuyển được một tôn sư kềm cặp để học hành và tu tập.

3. Giáo phụ thánh thiện. Giáo phụ của Giáo hội. Một số các tác giả xa xưa viết về tâm linh thời Kitô giáo (gồm giáo sĩ và giáo dân), được kính mến nhờ những đóng góp vượt bậc về giáo lý cùng sự mẫu mực đạo hạnh của họ và được sự phê chuẩn của Giáo hội. Tuy thế, một đôi người vẫn còn có khuyết điểm trong đời sống cá nhân như Tertulien hoặc có một số luận đề về sau bị coi là phi chính thống như Origen. Lời giảng dạy của các giáo phụ không được xem là hiển nhiên 'bất khả ngộ' (ngoại trừ được 'nhất trí đồng ý'), nhưng nhờ tính cổ đại của họ nên Giáo hội xem họ là những nhân chứng đặc biệt của đức tin và thường tái tham khảo họ mỗi khi Giáo hội có khủng hoảng. Thời kỳ giáo phụ kéo dài từ đầu thế kỷ thứ nhất tới thế kỷ thứ sáu bên Tây phương và tới thế kỷ thứ bảy bên Đông phương. Họ được chia thành hai nhóm. Nhóm Giáo phụ phương Tây dùng tiếng La tinh gồm 39 vị, trong đó có 31 vị được phong thánh; vị cuối cùng là Thánh Ixiđôrê thành Sêvin (560-636). Nhóm Giáo phụ phương Đông dùng tiếng Hi lạp gồm 49 vị, trong đó có 38 vị được phong thánh; vị cuối cùng là Thánh Gioan Đamascxênô (675-749).

Ngày nay, có phong trào nghiên cứu sâu rộng trở lại các giáo phụ, nằm trong nỗ lực tìm về nguồn Kitô giáo. Việc nghiên cứu ấy đóng góp rất nhiều trong lãnh vực thần học, phụng vụ và canh tân, đặc biệt trước và sau Công đồng Vatican II; và đóng vai trò chính yếu trong cuộc đối thoại đại kết giữa các giáo hội phân ly.

Thượng phụ. Gốc từ chữ Hi lạp Patriarchès: tổ phụ của một giống nòi. Tổ phụ và người cai quản một gia tộc, một bộ tộc hay nòi giống trong lịch sử có tính cách kinh thánh. Danh hiệu ấy được áp dụng chung cho Abraham, Isaác và Giacóp.

Từ thế kỷ thứ sáu, một giáo chủ hoặc giám mục đứng đầu một cộng đoàn rộng lớn cũng được gọi theo tước hiệu đó như một vinh dự làm hoàng tử của các tổ phụ nhưng không có quyền hành xét xử, ngoại trừ được qui định cách riêng theo luật lệ. Khởi điểm là năm Thượng phụ, giữ địa vị cao hơn giáo chủ địa phương, tổng giám mục chính tòa và giám mục. Theo phẩm trật, Thượng phụ La mã- từ vị trí lãnh đạo của Tông đồ Phêrô-đứng đầu các Thượng phụ Conxtantinốp, Alexanđria, Antiôkia và Giêrusalem (về sau, có thêm Matscơva). Tại phương Đông, còn có các Thượng phụ lễ điển ở Ácmênia, Maron (Liban), Melkhít, Canđê, và các tiểu Thượng phụ Venice, Lisbon, Đông Ấn và Tây Ấn. Quyền hành và tầm quan trọng của Thượng phụ (ngoại trừ Đức Giáo hoàng La mã) bị giảm bớt kể từ lúc có cuộc ly khai Đông Tây (1054). Các vị ấy có quyền tấn phong giám mục, làm phép dầu thánh, triệu tập công đồng, gởi dây phù hiệu Panlium tới các tổng giám mục chính tòa và nghe điều trần các khiếu nại tái thẩm án của tòa dưới. Đồng thời, là người cai trị tối cao
trong cộng đoàn giáo hội của mình và có quyền tài phán trên các giám mục khác. Trên họ, chỉ có Đức Giáo hoàng là có thẩm quyền tối thượng.

Tổ phụ đan viện. Viện phụ. Những vị tiên phong trong việc thiết lập cuộc sống cộng đoàn và qui chế tu trì cho những tu sĩ, thí dụ Thánh Antôn Cả Ai cập, Thánh Basiliô Cả, Thánh Bênêđíctô (Biển Đức)...

4. Philôkalia. (Tiếng Hi lạp: Philokalia; tiếng Nga: Dobrotolyubie). Có nghĩa: Tình yêu vẻ đẹp tâm linh. Nhan đề một bộ sách sưu tập các văn bản Kitô giáo về cuộc sống tâm linh, thần nghiệm và khổ hạnh viết bằng tiếng Hi lạp từ thế kỷ thứ năm tới thế kỷ mười lăm. Sách chủ yếu liên quan tới việc thực hành cầu nguyện tịch lặng (Linh đạo tĩnh tọa) và dùng Lời Cầu Nguyện Đức Giêsu (Lặp đi lặp lại thường xuyên lời cầu nguyện: "Chúa Giêsu Kitô xin thương xót con"; hoặc "Chúa Giêsu Kitô, xin thương xót con là kẻ tội lỗi".) Được biên tập vào thế kỷ mười tám do hai tu sĩ Hi lạp, Nikôđimốt Núi Athos Và Makariốt Corinthô, xuất bản lần đầu tiên tại Venice năm 1782. Bản biên dịch tiếng Anh có tên The Philokalia do G.E.H. Palmer, Philip Sherrard và Kallistos Ware. Nxb Faber and Faber Ltd. 3 Queen Square London WC1N 3AU, xuất bản lần đầu năm 1979.

Khoảng 1.400 năm trước, từng có cuốn Philôkalia thứ nhất, là một hợp tuyển các bài viết của Origen (k.185-k. 254), do Basiliô Cả và Grêgôriô Nazianzênô hợp soạn (thế kỷ thứ tư).

5. Thánh vịnh Năm mươi mốt.

Miserere

Lạy Thiên Chúa xin thương xót tôi
theo lòng nhân nghĩa của Người,
vì đức từ tâm hải hà,
xin tẩy xóa tội ác tôi đi!
Lòng tà này, xin cọ trắng tinh,
lỗi lầm của tôi, xin Người luyện sạch.

Bởi chưng tội ác tôi, tôi xin nhận,
lỗi lầm của tôi luôn luôn trước mặt tôi.
Tôi đã xúc phạm đến Người, đến một mình Người,
điều ác trước mắt Người, tôi đã dám làm,
ngõ hầu Người thật chí công, khi Người tuyên án,

Người sạch trong khi người xét xử.
Này trong tà ác tôi đã sinh ra,
và đã là tội lỗi khi mới là thai bụng mẹ.

Này Người muốn sự thật nơi tâm khảm
và trong bí mật Người dạy tôi cho biết khôn ngoan.
Xin lấy bài hương xá tội tôi, cho tôi nên sạch,
xin phiếu giặt tôi, cho tôi nên trắng hơn cả tuyết băng!

Xin cho vang dội tai tôi mừng vui hoan lạc
cho nắm xương Người đã nghiền tán lại được reo lên.
Xin hãy ngoảnh mặt đừng bắt lỗi tôi,
và mọi tà ác nơi tôi, xin Người tẩy xóa.

Xin hãy tạo dựng cho tôi tấm lòng trong sạch,
lạy Thiên Chúa
một khí phách mới, xin đặt vào lòng tôi.
Xin chớ xua đuổi tôi xa cách nhan Người,
thanh khí* của Người, xin chớ cất khỏi tôi.

Xin ban lại cho tôi nguồn vui cứu độ,
và ứng thêm tiết khí mà chống đỡ tôi!
Tôi sẽ dạy cho phường ngỗ nghịch lối của Người
để tội nhân trở lại với Người.

Vạ đổ máu, xin Người miễn cho
lạy Thiên Chúa, thần tế độ cho tôi
đức công chính của Người, lưỡi tôi sẽ reo lên!
Lạy Chúa, xin mở môi tôi,
cho miệng tôi cao rao lời ngợi khen Người.

Vì Người chẳng màng đến của tế lễ
và toàn thiêu, tôi có dâng lên, Người cũng chẳng nhận.
Lễ tế cho Thiên Chúa: tâm thần bầm tím,
tấm lòng bầm tím và nghiền tán, lạy Thiên Chúa,
Người sẽ chẳng khinh!

Theo lượng khoan nhân, xin Người giáng phúc xuống Sion,
tường Giêrusalem, xin Người xây lại!
Bấy giờ Người sẽ vui nhận lễ tế thập thành,
- lễ thượng hiến và của toàn thiêu-
bấy giờ trên bàn thờ Người, bò tơ sẽ nghi ngút lên hương.

Bản dịch của Nguyễn Thế Thuấn
Chuẩn ấn, Sàigòn 12.11.1975
Phaolô Nguyễn văn Bình

* Thanh khí: Nguyên lý nội tại về luân lý và tôn giáo mà Thiên Chúa đã ban cho mỗi người - Chú thích của Nguyễn Thế Thuấn.

6. Đan sĩ khổ tu. (Tiếng Hi lạp: Megaloschemos; tiếng Nga: Shimnik). Một nam tu hoặc nữ tu cấp bậc cao nhất. Đan viện chính thống giáo không có phân biệt lời khấn có thời hạn và lời khấn trọn đời như ở phương tây. Tại dó, tu sĩ được chia thành ba cấp, căn cứ theo lối tu trì, Cấp cao nhất là Megaloschemos, có nghĩa là cái áo lớn. Chiếc áo đặc biệt dành cho những đan sĩ tự nguyện dấn thân vào những nhiệm vụ khổ tu khắt khe hơn những đan sĩ khác, rút lui khỏi thế giới một cách nghiêm nhặt hơn, qui luật ăn uống đạm bạc hơn và bỏ ra phần lớn thì giờ để cầu nguyện và chiêm nghiệm.

7. Tượng thánh. Tượng thánh hoặc ảnh thánh giữ vai trò nổi bật trong cuộc sống chính thống giáo. Tại Nga, các tượng ảnh thánh có mặt không chỉ trong nhà thờ mà còn ở các tòa nhà công cộng đủ loại và tư gia. Cũng như ở Việt nam, tượng ảnh thánh được đặt trên bàn thờ hoặc treo trên chính giữa tường trong phòng, thường đối diện cửa ra vào. Và khách lai vãng thường làm dấu thánh giá trước tượng thánh khi họ ra vào.

8. Chiến tranh Crimea. Xảy ra từ năm 1853 tới 1856. Một bên là Nga, một bên là Pháp, Anh, Thổ Nhĩ Kỳ và một số nước Tây Âu. Có thể lấy đây làm thời điểm xác định cho cuốn 'Chuyện Người Hành Hương' này.

9. Gần nơi các thánh. Nghĩa là gần mộ của các thánh, tại Kiev-Pecherskaya. Nơi đây từng có một trong các đan viện nổi tiếng nhất và có ảnh hưởng nhất tại Nga, hàng năm có hàng trăm ngàn người tới hành hương. Đan viện được thành lập vào thế kỷ mười một, và trong hầm mộ hiện vẫn còn nhiều di thể không bị hư hoại của nhiều vị thánh người Nga thời xa xưa.

10. Đài Đức Mẹ Pochaev. Theo truyền thuyết, vào khoảng thế kỷ thứ 13, Đức Mẹ với ánh hào quang chói lọi và các thánh bao quanh đã hiện ra tại Pochaev cho một số người chăn súc vật. Mẹ để lại dấu chân trên tảng đá Mẹ đứng. Từ chỗ đó phát ra một dòng nước có khả năng chữa trị bệnh tật. Về sau, có thiết lập tại đó một tu viện. Tảng đá ấy hiện vẫn được lưu giữ dưới hầm mộ của Đài Đức Mẹ Pochaev.

11. Pravoslavny. Tên mà người Nga gọi giáo hội chính thống, có nghĩa là "chính giáo".

Chính thống giáo là danh xưng mà các Giáo hội Đông phương đòi phải được thừa nhận khi họ chấp nhận Công đồng Êphêsô, năm 431, trong đó tuyên bố Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa và xác định Ngôi Con của Đức Giêsu Kitô; và Công đồng Calcêđônia, năm 451, trong đó chống lại lạc giáo và tuyên bố Đức Giêsu Kitô có một ngôi vị và có hai bản tính. Thời cận đại, người ta có thói quen gọi các Giáo hội Chính thống là tất cả các Giáo hội Đông phương giữ lại đức tin của Calcêđônia nhưng không hiệp thông cùng Giáo hội La mã.

12. Raskolnik. Nghĩa đen là 'ly giáo', đôi khi được gọi là 'tín đồ bảo thủ'. Ra đời vào thế kỷ 17 do việc chống lại cuộc cải cách kinh sách phụng vụ của Đức Nikon, Thượng phụ Mát-cơ-va.

13. Núi thánh Athos. Bán đảo nhiều đồi núi, phía Bắc nước Hi lạp, nơi vào năm 958, thánh Athanasiô (được gọi là Người núi Athos) đến ở và thiết lập Dòng tu Lavra năm 963. Sau đó, các đan viện và các khu lều của các nhà ẩn tu, ẩn sĩ gia tăng nhanh chóng, đưa con số các đan sĩ của các Giáo hội Chính thống lên hơn mười ngàn người. Tại đây cũng có một đan viện Đa minh thuộc Giáo hội La mã. Hiện nay, núi Athos được hưởng một nền tự trị rộng rãi trong nước Hi lạp và trực thuộc Đức Thượng phụ Conxtantinốp về phương diện Giáo Hội. Hiện đếm được trên hai mươi đan viện có lối sống cộng đoàn riêng tư, mười hai tiểu đan viện, chừng hai mươi phòng nhỏ cá nhân và hơn 400 lều ẩn tu. Tổng cộng gần 3000 đan sĩ.

14. Solovetsky. Tên một đan viện nổi tiếng tại một quần đảo nhỏ có cùng tên, tại Bạch Hải. Trực thuộc đan viện trên các đảo có những tiểu đan viện. Được thành lập năm 1429.

15. Trong nguyên bản tiếng Nga, ở chỗ này có ghi là: "Từ bản chép tay của tác giả nhận được qua Cha Ambrose của Đan viện Dobry."

16. Trong nguyên bản tiếng Nga, ở chỗ này có ghi là: "Vào thập niên chín mươi, cuối thế kỷ vừa qua, tại Troitskaya Lavra, một starets từ trần. Ông là một giáo dân sống 108 tuổi. Ông không biết đọc biết viết nhưng lúc nào cũng thốt lời cầu nguyện Đức Giêsu, kể cả trong khi ngủ, và sống liên tục như một đứa con nhỏ của Thiên Chúa, với con tim khao khát Ngài. Tên ông là Gordi." Troitskaya Lavra là một đan viện nổi tiếng thuộc dòng Ba Ngôi Thánh Thiện, gần Mátcơva, do Thánh Sergei thành lập vào thế kỷ 14. Trong một số phương diện, đóng góp của nó vào cuộc sống tôn giáo của người Nga có thể so sánh với phong trào Hội Dòng Cluny (đã giải tán năm 1790). Đan viện Troiskaya liên hệ mật thiết với lịch sử nước Nga, và là mũi nhọn trong phong trào dân tộc đánh đuổi người Ba lan, lập nên triều đại Romanov ở Nga năm 1613.

17. Otechnik. Cuộc đời gương mẫu (trong các nhà dòng thường gọi là 'hạnh') của các Giáo phụ rút tỉa từ các bài viết của chư vị.

18. Moldavia. Một nước cộng hòa ở vùng tây bắc nước Nga.

19. Nhà ẩn tu. (Tiếng Anh: Hermit, tiếng Pháp Ermite, gốc tiếng La tinh Eremus). Người sống một mình nơi hoang dịa, tận hiến để cầu nguyện và chiêm nghiệm. Xuất hiện từ thời kỳ giáo hội tiên khởi bị bách hại. Còn có dấu vết trong thời đại Cựu Ước như ngôn sứ Êlia, và sau đó Thánh Gioan Tẩy giả. Ban đầu, có vô số nhà ẩn tu tại Ai cập và Tiểu Á, về sau lan tới phương tây làm thành các tu viện. Theo truyền thống đan viện thì nhà ẩn tu là đan sĩ sống một mình phải có liên hệ với một đan viện và vẫn luôn luôn vâng phục đan viện trưởng.

20. Saracen. Tiếng dùng để gọi người Hồi giáo A rập thời Thập tự chinh. Họ sống du mục trong hoang mạc thuộc vùng Xyri và A rập.

Phụ lục 3

Tiểu sử

Antôn Cả. Còn gọi là Antôn xứ Ai cập. Nhà ẩn tu. Sinh gần Memphid khoảng năm 251, mất năm 356 tại Núi Kolzim. Lễ kính: 17 tháng Giêng.

Ông được xem là tổ phụ sáng lập chế độ đan viện theo ý nghĩa về sau của tiếng đó, vì ông tập họp các nhà ẩn tu thành cộng đoàn có liên hệ chặt chẽ và áp dụng giới luật qui củ cho họ, nhưng bản thân ông thì suốt đời trải qua cuộc sống một mình, khi nhiều khi ít.

Vào khoảng hai mươi tuổi, ông bán hết sản nghiệp thừa kế, đem tiền giúp cho người nghèo khổ và bắt đầu sống cô độc tại nhiều địa điểm khác nhau quanh vùng quê của mình tại Hạ Ai cập, dùng thời gian để cầu nguyện, học hỏi và lao động chân tay kiếm sống. Ông chịu nhiều cuộc cám dỗ dữ dội cả tinh thần lẫn thể xác nhưng ông khắc phục được, và tới lúc đó, một số môn đệ tụ tập chung quanh ông. Vào khoảng năm 312, ông đi xa hơn và đến sống ẩn dật tại một hang động vùng Núi Kolzim, sát góc tây bắc của Biển Đỏ. Nơi đây là nhà của ông cho đến hết cuộc đời. Ông nói: "Cá ra khỏi nước thì hết sống. Tu sĩ xa cảnh tịch lặng thì chết dần chết mòn."
Đủ loại người tìm đến ông để xin lời chỉ bảo hoặc hoàn toàn chỉ vì tò mò. Thỉnh thoảng, ông đến thăm các đệ tử ở những chỗ ẩn cư của họ. Tới cuối đời, ông có đi Alexandria để cổ động việc chống lại lạc giáo Ariô. [Ariô (k.250-336) được truyền chức linh mục tại Alexandria khoảng năm 312. Ông giảng dạy một học thuyết rằng Đức Giêsu chỉ là một tạo vật thứ yếu và tùy phụ vào Đức Chúa Cha, và như thế có nghĩa ông không công nhận tính chất hằng cửu và thiêng liêng của Đức Giêsu. Ông bị dứt phép thông công k.318 và bị Công đồng Nixêa lên án là lạc giáo năm 325.]

Theo truyền thuyết, Thánh Antôn Cả sống hoàn toàn mạnh khỏe cho đến hơn một trăm tuổi mới qua đời. Phần lớn chi tiết cuộc đời ông do Thánh Athanasiô, giám mục Alexandria, (k.296-k.373), một người quen biết ông viết lại, Cuốn sách "Hạnh Thánh Antôn" ấy nay vẫn còn.

Các tu sĩ sa mạc thường bị mô tả là những người quá độ và cuồng tín, nhưng Antôn thì không như vậy. Trong đời mình, ông là người đặc biệt dịu dàng, khôn ngoan tâm linh, có cuộc sống khổ hạnh cao cả, luôn luôn đầy nhận thức, hướng tới sự càng ngày càng phục vụ Thiên Chúa. Khi còn sống và kể cả sau khi qua đời và cho tới thời Trung cổ, ảnh hưởng của ông vô cùng lớn lao, và sự tôn kính ông, đôi khi vì những lý do ngoại tại, rất sâu xa trong khắp những xứ theo Kitô giáo.

Các "tổ phụ sa mạc" mà Thánh Antôn là một đại biểu cổ điển, sống khi lâu khi mau tại những chốn hẻo lánh, trong lều, hang động hoặc các tòa nhà bỏ hoang. Họ tìm kiếm Thiên Chúa qua kỷ luật tự giác về thể xác và trí tuệ, bằng cuộc sống cầu nguyện và chiêm nghiệm, khắc khổ và lao động chân tay. Việc lao động chân tay phát sinh từ nhu cầu tự cung cấp nhu yếu tối thiểu về thực phẩm, quần áo và chỗ ở bằng nghề như đan thúng, đan chiếu lá cọ. Nhiều nhà văn (và nhiều họa sĩ) có khuynh hướng chú trọng hạn hẹp vào lối sống tự hành xác vô độ chỉ vì chính nó và một cuộc sống không kềm tỏa của kẻ "siêu việt". Nhưng gương phước của Thánh Antôn cho thấy sống khổ hạnh không là như thế. Trong hoàn cảnh tốt nhất của nó, nó có thể, và đã chứng tỏ là có thể, sản sinh những nhân vật chính trực và minh triết lạ thường với nét đặc trưng là sự am hiểu sắc bén tâm lý con người và khả năng biểu lộ sự am hiểu đó bằng những trình thuật của họ.

Khi qua đời, Thánh Antôn được an táng tại chỗ ông chọn nhưng không ai biết. Tới năm 561, người ta tìm thấy hài cốt của ông, đưa về cải táng ở Alexandria. Về sau, khoảng năm 1.100, nơi đó lập thành cộng đoàn Tu sĩ Cứu tế Antôn, và trở thành một địa điểm hành hương và cứu chữa. Tượng trưng nghệ thuật của Thánh Antôn là con heo và cái chuông. Ông không phải là tác giả cuốn "Luật dòng Antôn", một tác phẩm do một đan sĩ sưu tập về sau. Ông để lại nhiều thư từ gởi các đan viện khác nhau (Thánh Giêrêmiô kể lại bảy thư của ông, được dịch từ tiếng Cổ Ai cập ra tiếng Hi lạp).

Athanasiô Núi Athos. Tu viện trưởng. Sinh tại Trebizond k.920, mất k.1003 tại Núi Athos. L.k.: 5 tháng Bảy.

Từ trước đó, Núi Athos tại Hi lạp vẫn là nơi tu hành của các nhà ẩn tu, nhưng phải chờ tới thế kỷ thứ mười, ở đó mới có chế độ cộng đoàn tu viện do Thánh Athanasiô đem tới. Ông vốn là thầy giáo ở Conxtantinốp, sau đó gia nhập cuộc sống tu sĩ ở Núi Kyminas tại Bithynia mà bề trên là Thánh Micae Malêniốt. Tới năm 958, ông sang sống tại Núi Athos. Nhờ hoàng đế Nicêphôrê II tài trợ, ông xây lên tu viện đầu tiên và vẫn còn đứng vững cho tới ngày nay với cái tên giản dị là Lavra, nghĩa là Tu viện. Tiếp theo là những cơ sở khác nay vẫn tồn tại ba cơ sở là những tu viện hàng đầu tại Núi Thánh ấy.

Ban đầu, ông gặp sự chống đối và căm ghét của các nhà ẩn tu tại đó vì họ cho rằng ông chiếm đất đai và xâm phạm đời tư của họ bằng cách mang cấp bậc và giới luật tới cho cuộc sống và lối sống tu tập của họ. Sau nhờ nhà vua Gioan Tzimixết can thiệp, ông mới xác lập được thẩm quyền của mình và đạt được sự tín nhiệm và tôn kính của những kẻ đi theo mình. Ông qua đời vì bị vòm đá nhà thờ sập trúng.

Augustinô. [Âu-tinh]. Giám mục và Tiến sĩ Hội thánh. Sinh tại Thagaste, nay thuộc Algeria, Phi châu, năm 354, mất tại Hippô năm 430. L.k.: 28 tháng Tám.

Ông là vị Giáo phụ La tinh nổi tiếng nhất của giáo hội phương Tây. Phụ thân là người ngoại đạo. Thân mẫu là Kitô hữu, Thánh Nữ Mônica. Bà nuôi dạy ông nhưng ông không chịu phép rửa tội. Ông học về hùng biện tại Đại học Carthage và muốn trở thành luật sư. Trong thời gian đó, ông sống chung với một tình nhân suốt 15 năm và có một con trai tên là Adêôđatốt. Rồi ông học triết học theo trường phái Plato và sau đó, đi theo thuyết Manikê (của Mani, một tôn sư người Ba tư vào thế kỷ thứ ba, cho rằng hai nguyên lý Thiện và Ác đối lập nhau vĩnh viễn và con người là sự hòa trộn của hai nguyên lý đó). Năm 383, Augustinô đến giảng dạy tại La mã và dần dần chịu ảnh hưởng vừa của trường phái Tân-Plato vửa của các lời giảng dạy của Thánh Ambrôsiô (k.339-397). Ông trải qua sự xung khắc nội tâm đầy đau đớn giữa danh giá, tài sản, hôn nhân và lời kêu gọi tận hiến toàn bộ cuộc đời cho Thiên Chúa. Khi bắt gặp Thư Tông đồ Phaolô Gởi Tín hữu Rôma chương 13:12-14, "Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu. Chúng ta hãy ăn ở cho đứng đắn như người giữa ban ngày: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tương. Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thỏa mãn các dục vọng", thì ông lập quyết định.

Ông được rửa tội vào dịp lễ Phục sinh năm 387 cùng với con trai mình và người bạn tên Alipiút. Sau đó, ông trở về châu Phi lập một cộng đoàn tu trì. Đến năm 391, dù không muốn, ông vẫn được truyền chức linh mục, và năm năm sau, được phong giám mục thành Hippô.

Suốt ba mươi bốn năm, Thánh Augustinô là một trong các giám mục địa phận vĩ đại nhất của Giáo hội Kitô tại Bắc Phi. Ông hành xử thẩm quyền mục vụ như một thừa tác viên vô tư, bất vụ lợi, đầy thiện cảm và chăm sóc phúc lợi của dân chúng. Ông sống cộng đoàn với giới tăng lữ theo qui luật nghiêm nhặt, hằng ngày dâng lễ cho công chúng, rao giảng mỗi ngày Chúa nhật và ngày lễ, chuẩn bị bài dạy rửa tội, xem xét các nhu cầu vật chất của giáo hội và của người nghèo, kể cả việc phân xử công lý trong các sự vụ công dân. Và hễ có thời gian là ông viết, không chỉ cho các bằng hữu và nhằm đáp ứng các nhu cầu địa phương chống lại các tà giáo dị giáo, mà còn cho độc giả khắp nơi, đặc biệt các bài viết về Tam Vị Nhất Thể và về ơn sủng.

Tác phẩm của ông rất đồ sộ. Hiện vẫn còn 113 cuốn sách và luận văn, trên 200 thư, hơn 500 bài giảng. Hai cuốn dài nhất của ông là Confession (Lời trần tình - tiểu sử tự thuật từ lúc còn trẻ cho tới ngày ông trở lại), và The City of God (Thành đô của Thiên Chúa - viết về cuộc thất thủ Rôma năm 410 và sự sụp đổ của văn minh La mã ở phương Tây), thu hút vô số độc giả trong hàng ngũ sinh viên và các nhà thần học từ lúc sách mới ra đời và cho tới hiện nay. Tư tưởng của ông ảnh hưởng mạnh mẽ lên giáo hội phương Tây tuy học thuyết về sự tiền định của ông đã gây nên những tranh luận lâu dài. Luật lệ tu trì của ông ngày nay vẫn được chấp nhận và áp dụng trong vô số dòng tu nam và nữ, đặc biệt những qui điển và những dòng tu mang tên ông.

Basiliô Cả. Còn gọi là Basiliô thành Xêdarê. Giám mục và Tiến sĩ Hội thánh. Sinh tại Xêdarê năm 329 và mất ngày 1 tháng Giêng năm 397 cũng tại đó.

Thánh Basiliô Cả chào đời trong một gia đình Kitô giáo lâu đời, giàu có, danh giá và đặc biệt mộ đạo. Bà nội, cha và mẹ ông, chị ông và hai em trai ông, tất cả đều được phong thánh. Ông được theo học tại các học viện ở Xêdarê, Conxtantinốp và Athen. Tại đó, ông kết bạn thân thiết với Thánh Grêgôriô Nazianzênô (329-389). Khoảng năm 357, ông viếng thăm các trung tâm tu viện phương Đông và ở lại làm tu sĩ ở Annesi, bên dòng sông Iris ở Pontius. Thánh Basiliô thành lập một đan viện ở Cappôđoxia, chỉ sống với cộng đoàn đó khoảng năm năm nhưng từ đó, ông được xem là tổ phụ của chế độ tu trì đan viện ở phương Đông. Ông không phải là người lập ra luật dòng như Thánh Bênêđíctô ở phương Tây nhưng ảnh hưởng của ông rất sâu rộng và cho tới nay, đời sống đan viện của giáo hội Chính thống giáo vẫn dựa trên những nguyên tắc do ông ấn định.

Từ khi được truyền chức linh mục vào năm 365, Thánh Basiliô thực hiện sứ vụ tại địa phận Xêdarê và được phong giám mục tại đó năm 370. Đúng với nhiệm vụ mình, ông đứng lên chống lại sự bách hại của Hoàng đế lạc giáo (Ariô) Valens (k.328-378) đối với các Kitô hữu chính thống và bị gọi ra quan trấn thủ địa phương để tự biện hộ cho mình. Thái độ của ông cứng cỏi tới độ quan trấn thủ phải tỏ ra sửng sốt về sự táo bạo của ông. Ông trả đũa lại rằng, "Có lẽ ông chưa bao giờ phải ứng xử với một giám mục thật sự." Sự việc đó và những cuộc tranh luận khác đã làm xáo trộn toàn bộ quyền giám mục của ông và ông lâm vào các quan hệ đầy khó khăn với Đức Thánh Giáo hoàng Đamasô (k.304-384) và giáo hội phương Tây. Hoàng đế Valens sợ hãi ông, tìm cách truất quyền ông bằng các biện pháp hành chính. Tình trạng đó đưa tới sự đoạn giao đau đớn giữa Basiliô và Grêgôriô Nazianzêrô mà ông đánh giá là cả hai có một tình bạn rất thâm sâu.

Khi Basiliô Cả qua đời, chứng kiến các đám đông dân chúng khóc thương ông, người ta thấy rõ ông sống thân mật với đàn chiên của mình như thế nào. Một trong những công trình vĩ đại nhất của ông là cung ứng tại Xêdarê một cơ sở vĩ đại gồm các tòa nhà tạm trú, một nhà thờ, một bệnh viện, một nhà tế bần cho khách vãng lai, một ban bác sĩ y tá và các thợ thủ công. Cơ sở đó lớn tới độ trông giống như một thị trấn mới thành lập.

Các chi tiết về cuộc đời Thánh Basiliô Cả phần nhiều được rút ra từ các bức thư và các bài giảng của ông, cho thấy một hình ảnh sống động về cá tính đa dạng và các hoạt động phong phú của ông. Ông có thiện cảm mạnh mẽ và thực tế đối với người nghèo, người bị áp bức và ông quyết liệt với các hành động tàn ác của người giàu. Tính ông ngoan cường và sẵn sàng đối phó thẳng thừng, đó là hai yếu tố góp phần làm nên một số thất bại của ông. Ông thường viết một cách chán nản: "Vì các tội lỗi của mình, tôi dường như thất bại trong mọi sự."

Ông nhấn mạnh tới cuộc sống cộng đoàn, kinh nguyện phụng vụ và lao động chân tay hơn là những kỳ tích khổ hạnh có tính cách riêng tư. Lề luật phải đủ uyển chuyển để cho phép phát triển các nhà tế bần, nhà thương, các nhà trọ, mà trong đó tu sĩ làm việc và đồng thời tránh được những nguy cơ của chủ trương chỉ nhấn mạnh hoạt động vào sự chiêm nghiệm. Trong số các luận văn của mình, ông có một bài khuyên các cháu ông cần thận trọng nhưng phải sử dụng đầy đủ nền văn học cổ điển ngoại đạo để dọn cho mình am hiểu sâu xa hơn về Kitô giáo; một quan điểm hiếm thấy vào thời đại của ông. Các bài viết giáo lý quan trọng nhất của ông là luận văn về Chúa Thánh Thần, những cuốn sách chống lại Eunomius, và cuốn Philokalia mà ông cùng Gregôriô Nazianzênô tuyển từ các bài viết của Origen. Ảnh hưởng của ông rất lớn nhằm đưa tới việc chấm dứt tranh luận về lạc giáo Ariô hai năm sau khi ông qua đời. Ông là một trong bốn Tiến sĩ Hội thánh thuộc nhóm Giáo phụ Hi lạp.

Từ năm 1969, lễ kính ông chung với Thánh Grêgôriô Nazianzênô ngày 2 tháng Giêng. Giáo hội phương Đông kính ông ngày 1 tháng Giêng.

Callistốt Thượng phụ. Sống vào giữa thế kỷ 14. Đệ tử của Thánh Grêgôriô Núi Xinai, tại tiểu đan viện Magoola ở Núi Athos. Ông sống đời khổ hạnh 28 năm với một người tên Máccô và đặc biệt có một tình thân thiết rất sâu xa với Thánh Inhaxiô tới độ "như thể một tinh thần ở trong hai thể xác." Về sau, khi đã được tấn phong Thượng phụ, ông ghé ngang Núi Athos trên đường đi Serbia và trong khi ở lại Núi thánh này, một người tên Maxium đã tiên đoán về cái chết của ông: "Vị tôn sư này sẽ không thấy lại đàn chiên của mình, vì từ sau lưng ông, người ta đã nghe ra bài tang lễ: Phúc cho ai không bị ô uế trên lối đi ấy." Quả thật, ông qua đời khi vừa tới Serbia. Trong một luận án viết về việc cầu nguyện Đức Giêsu, Grêgôriô Palamas đã ca ngợi các bài viết của Callistốt và Inhaxiô về cùng một chủ đề đó.

Điadokh. Được gọi là Diadokh Đầy ơn sủng. Giám mục giáo phận Photice ở Epirus. Khoảng năm 460, Giám mục Victorê, giáo phận Utica, viết trong lời đề tựa cuốn History of the Barbarity of the Vandals - Lịch Sử Sự Dã Man Của Dân Vandal của ông tự nhận mình là học trò của Diadokh, trích dẫn và ca ngợi các bài viết tâm linh của thầy mình. Người ta có đọc thấy tên ông ký chung trong thư của các Giám mục Epirote gởi Hoàng đế Lêo. Còn ngoài ra, không biết thêm gì về ông.

Êphrem xứ Xyri. Thi sĩ , nhà thần học vĩ đại người Xyri. Tiến sĩ Hội thánh. Sinh tại Nisibia, Mesôpôtamia, k.306, mất k.373. L.k.: 18 tháng Sáu.

Suốt đời, ông khiêm nhượng chỉ nhận chức phó tế, và sống tại quê nhà mình ở vùng Mêsôpôtamia. Tới năm 363, ông di cư tới Êđessa (tỉnh Urfa ở Irắc) nơi có một học viện thần học quan trọng và nổi tiếng. Êphrem nổi danh về các bài viết của mình và trên tất cả là những bài thuyết giảng giàu âm điệu để đọc lớn tiếng và các bài thánh thi phụng vụ. Thánh ca của ông được soạn phổ thông cho công chúng và có phong cách giảng dạy, thường trực tiếp chống lại những giáo thuyết tà đạo muôn hình muôn vẻ. Những tác phẩm qui cho ông ngày nay vẫn được dùng trong các giáo đường ở Xyri, và trước khi qua đời, ông đã nổi tiếng khắp các vùng nói tiếng Hi lạp. Có nhiều khúc ca của ông được chuyển sang tiếng các nước khác và dùng trong giáo hội phương Tây.

Ông viết một số sách luận giải có giá trị về Kinh Thánh. Tác phẩm của ông dạt dào cảm xúc, tràn đầy hình ảnh; và dù là một nhà thần học, ông viết như một thi sĩ. Ông luôn luôn được đánh giá như một tôn sư vĩ đại của giáo hội Xyri. Nhiều tác phẩm của ông được dịch ra tiếng Hi lạp, Ácmênia và La tinh từ rất sớm. Ông là nhà quán quân trong việc bảo vệ quan điểm chính thống, đặc biệt chống lại Marcion và bảo vệ Kinh Tin kính Nixêa. Năm 1920, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XV phong ông là Tiến sĩ Hội thánh.

Gioan Cái thang. Còn gọi là Gioan Klimax. Tu sĩ và tu viện trưởng tại Núi Xinai. Sinh k. 569. Mất năm 649 tại Xinai. L.k: ngày 30 tháng Ba.

Klimax tiếng Hi lạp có nghĩa là Cái thang. Ông sinh tại Palestỉne. Lập gia đình lúc còn trẻ. Khi vợ qua đời, ông đi tu. Sau vài năm trong nhà dòng, ông trở thành nhà ẩn tu sống hầu hết cuộc đời mình tại Thole giống như các tu sĩ Ai cập. Năm ngày một tuần ông sống gần như hoàn toàn cô độc, tới Thứ Bảy và Chúa nhật mới cùng các ẩn sĩ khác đi nhà thờ. Tại chốn ẩn cư của mình, ông viết tác phẩm về sau trở thành danh hiệu của ông, cuốn "Cái Thang Lên Thiên Đàng." Cuốn này ứng xử với sự hoàn hảo đức hạnh, chia con đường đạt tới bằng ba mươi "nấc thang". Sách nổi tiếng và được quảng bá rộng rãi trong giới tu sĩ và những người mộ đạo ở phương Đông cũng như phương Tây. Bản tiếng Anh xuất bản năm 1959 với nhan đề The Ladder of Divine Ascent.

Ông có ảnh hưởng lớn trong cuộc sống tu trì về việc ứng xử tâm linh với các tật xấu và các đức hạnh, đời sống đan viện và cuộc sống ẩn dật, và việc theo đuổi apatheica (trạng thái vô tư vô ưu). Tới tuổi bảy mươi, ông được bầu làm tu viện trưởng nhưng ông chỉ làm bề trên trong bốn năm rồi lui về nơi ẩn dật của mình. Khái niệm của ông về cuộc sống tâm linh như một chiếc thang đã khởi hứng cho các nghệ sĩ sáng tác triển khai thành một hình ảnh qui ước trong các tranh tượng ở Byzance, Núi Athos và nhiều nơi khác. Tại khắp vùng Palestine và A rập, ông nổi tiếng là người thánh thiện.

Phụ lục 3

Tiểu sử

Gioan Cassian. Còn gọi Kassian La mã. Sinh k.360, có lẽ tại một nơi nào đó nay thuộc Rumania, mất k.435 tại Marseilles. L.k.: 23 tháng Bảy.

Cha mẹ ông là người nổi tiếng và giàu có và ông thụ hưởng một nền giáo dục tốt. Ông tới Palestine và trở thành tu sĩ ở Giêrusalem. Nghe nói về thành tựu khổ hạnh của các tổ phụ Ai cập, hai năm sau, khoảng 390, ông cùng một người bạn gốc Đức tới thăm viếng họ. Về sau, ông ghé lại một tu viện nhỏ và ở với các nhà ẩn tu từ năm 397 tới 400. Rồi ông đi Conxtantinốp, được Thánh Gioan Kim khẩu phong trợ tế, còn người bạn Đức của ông được phong linh mục. Cả hai được Gioan Kim khẩu phái đi Tòa thánh La mã để xin yểm trợ lúc ông bị bắt giam. Gioan Cassian không quay lại phương đông nữa, mà trở về quê hương mình và được truyền chức linh mục. Ông dùng phần đời còn lại thực hành cuộc sống khổ hạnh nghiêm nhặt mà ông đã học được tại Ai cập. Năm 415, ông lập một nhà dòng nam và một nhà dòng nữ. Các bài viết của ông về cuộc sống tu trì có ảnh hưởng lớn lao lên cả hai giáo hội phương Đông cũng như phương Tây và đặc biệt Thánh Bênêđíctô đã truyền lệnh phải dùng cuốn Conferences - Vấn ý - của Gioan Cassian làm một trong những c
uốn sách đọc lớn cho các đan sĩ nghe sau bữa ăn tối. Sách đó gồm khoảng 12 tập về các yêu cầu của cuộc sống tu trì ẩn dật.

Gioan Đamascus. Còn gọi là Gioan Đamasxênê hay Đamasxênô. Tu sĩ, nhà thần học và soạn thánh thi phụng vụ, Giáo phụ sau cùng trong nhóm Giáo phụ Hi lạp. Sinh tại Đamascus k.675, mất gần Giêrusalem k.749. L.k.: 27 tháng Ba.

Suốt đời ông trải qua dưới sự cai trị của Hồi giáo. Cha ông là một Kitô hữu giàu có ở Đamascus, đại diện chính thức cho các Kitô hữu tại kinh đô và kế thừa làm quan phụ trách tài chính tại triều đình của vua Hồi giáo Abdul Malak. Cha ông bỏ ra một số tiền rất lớn chuộc Cosma, một tu sĩ Sicili, giỏi khoa học và thần học, bị người Hồi bắt giam. Và vị tu sĩ này trở thành thầy của Gioan Đamacus. Sau đó, Gioan kế thừa đảm trách chức vụ của cha, nhưng rồi Hoàng đế Lêo III hạ lệnh phá hủy các ảnh tượng thiêng liêng, Gioan nhờ sống tại Đamascus và có sự che chở của nhà cầm quyền Arập Hồi giáo nên có thể viết và xuất bản các luận văn bảo vệ tượng thánh mà không bị trừng phạt và gây được nhiều ảnh hưởng. Tới năm 716, ông đi tu, sau đó làm linh mục tại đan viện của Thánh Sabas, gần Giêrusalem, trong vùng núi non hoang mạc giữa Giêrusalem và Biển Chết. Ông sống ở đó cho tới khi qua đời.

Thường ngày, ông bận rộn với việc viết các thánh thi phụng vụ và các tác phẩm thần học. cuốn quan trọng nhất của ông là Fount of Knowledge - Nguồn gốc của kiến thức - mà trong phần thứ ba, Đức tin Chính thống, chứa đựng một tổng hợp về thần học của các Giáo phụ. Cuốn này được dùng rộng rãi và có ảnh hưởng sâu xa tại phương Tây thời Trung cổ. Ông còn có ba bài giảng liên quan tới Đức Mẹ Đồng Trinh lên trời cả hồn lẫn xác sau khi Mẹ qua đời và Sự Hiện Diện Thật Sự của Phép Thánh Thể. Người ta còn qui cho ông là tác giả cuốn Sacra Parellela - Những đối chiếu thiêng liêng, một hợp tuyển lớn lao về tu đức học và đạo đức học. Nhân đức của ông sống mãi trong giáo hội qua những thánh thi phụng vụ của ông mà ngày nay vẫn còn được hát lên trong nhà thờ. Năm 1890, ông được Giáo hoàng Leo XIII tuyên bố là Tiến sĩ Hội thánh.

Gioan Karpathisky. Không có gì về tác giả này được xác nhận một cách cụ thể. Chỉ có Phôtiốt, Thượng phụ Conxtantinốp, đề cập tới việc mình có đọc một cuốn sách trong đó, bên cạnh các bài của Diadokh và Nil, có một phần của Gioan Karpathisky với nhan đề: Những lời an ủi các đan sĩ từ Ấn trở về xin lời khuyên bảo. Điều đó cho thấy ông sống cùng thời với Diadokh và Nil vào thế kỷ thứ năm. Karpathos là một hòn đảo giữa đảo Rhodes và Crete của Hi lạp. Với danh xưng đó, người ta nghĩ hoặc đảo ấy là quê ông hoặc ông đã từng sống ở đó.

Gioan Kim khẩu. Giám mục và Tiến sĩ Hội thánh. Sinh tại Antiôkia k.347, mất tại Comana ở Pontus năm 407. L.k.: 13 tháng Chín.

Là con trai độc nhất của một sĩ quan quân đội tại Antiôkia, Gioan mồ côi cha, được người mẹ quả phụ nuôi dưỡng và tiếp thu nền giáo dục tốt nhất của Antiôkia cả về luật học lẫn hùng biện, dưới sự dạy dỗ về tu từ học của nhà hùng biện ngoại đạo nổi tiếng Libanius, về tôn giáo của nhà chú giải Điođôrê và Giám mục Mêlêxa. Từ khoảng năm 373, ông trở thành một đan sĩ khổ tu trong một cộng đoàn ở vùng núi gần thành phố và sức khỏe gần như bị tàn phá hoàn toàn vì lối sống kham khổ và điều kiện ấm ướt trong chiếc hang ẩn dật của mình.

Ông quay về Antiôkia năm 381, được truyền chức trợ tế và phục vụ giáo hội địa phương cho tới khi được thụ phong linh mục năm 386. Kế đó, ông trở thành phụ tá đặc biệt của giám mục, chuyên lo các nhu cầu thế tục và hướng dẫn tâm linh cho vô số Kitô hữu nghèo khó trong thành phố. Chẳng bao lâu, ông nổi tiếng là người rao giảng và luận giải về các Thư Gởi Tín Hữu của Tông đồ Phaolô và sách Phúc âm theo Thánh Mátthêu và Thánh Gioan. Theo truyền thống Antiôkia, ông khẳng định nghĩa đen từng chữ một của Sách Thánh và sự áp dụng thực tế của nó vào các vấn đề thời đại. Vì thế, các tác phẩm của ông vẫn còn thích đáng đối với ngày nay. Ông cũng nổi tiếng về chính trị bằng hai mươi mốt bài giảng vào năm 387 về "Các Tượng", đưa tới việc dân chúng nổi loạn chống thuế của nhà vua, và các "bức tượng" tượng trưng cho Hoàng đế Thêđôsius, cha ông ta, các con trai và người vợ quá cố của ông ta. Ông may mắn thoát khỏi sự trả đũa nhờ có lệnh khoan hồng của vị giám mục cao niên Flavian (?-449). Các bài giảng của ông cũng góp phần quan trọng trong việc đẩy mạnh các căn nguyên của hòa bình và hiểu biết.

Năm 397, sau khi giám mục giáo phận Conxtantinốp từ trần, Hoàng đế Arcađius (k.377-408) ao ước Gioan Kim Khẩu được chọn làm người kế vị, sai sứ giả tới bí mật đưa ông rời khỏi Antiôkia vì sợ dân chúng phản đối. Thêophilus, giám mục Alexandria, (?-412), một đối thủ không đạt ý nguyện và trong tương lai là chú của Giám mục Cyril Alexandria, buộc lòng phải phong cho Gioan Kim khẩu làm Giám mục Conxtantinốp vào năm 398. Lập tức, Gioan bắt tay vào việc chấn chỉnh nền luân lý suy đồi của triều đình, tăng lữ và dân chúng. Cuộc sống của ông giản dị và khắc khổ, thương yêu người nghèo, chống lại sự xa hoa, đặc biệt của tầng lớp vương công quí tộc. Ông giảm bớt các chi phí đã thành lệ trong nhà mình để lo cho người nghèo và bệnh viện. Ông ban hành các luật lệ nghiêm nhặt cho giới giáo sĩ: những luật lệ thường bị gọi là thiếu tế nhị. Ông cũng tấn công thái độ cư xử, y phục và lối trang điểm của phụ nữ tại cung đình và sự kiện nhiều Kitô hữu tham gia đua ngựa ngày Thứ Sáu Tuần Thánh và dự các cuộc vui chơi ở vận động trường vào ngày Chúa Nhật Thánh.

Hoàng hậu Euxôđia (?-404), vợ của Arcađius, xem đa số các biện pháp chấn hưng luân lý của ông là những công kích nhắm vào cá nhân bà, và thực tế không cải thiện được khi một bức tượng bằng bạc của bà được dựng lên bên ngoài nhà thờ chánh tòa của Gioan và khánh thành bằng những trò chơi của công chúng như một dịp mê tín và thác loạn. Trong khi đó, Thêophilus về phe với nữ hoàng, tổ chức một nhóm các giám mục hội họp tại Chalceđon, lên án Gioan Kim khẩu về một chuỗi các cáo giác có ít nhiều ngụy tạo mà không cần nghe ông biện bạch, đồng thời kết án ông là phản bội vì đã gọi Euxôđia là "Mặt dày mày dạn", và yêu cầu truất phế ông.

Gioan Kim khẩu bị lưu đày nhưng một trận động đất làm hãi hùng hoàng hậu Euxôđia ở Conxtantinốp và ông được triệu hồi. Ông lại tiếp tục phát ngôn bộc trực và thêm lần nữa làm bà thịnh nộ. Thêophilus lại kích động chống ông với lời khiếu nại lên hội đồng lạc giáo Arios ở Antiôkia, và thêm lần nữa, Gioan bị truất phế, lần này lý do là vì tái tục hành xử quyền giám mục mà ông đã bị "hạ bệ đúng luật". Việc này xảy ra năm 404 và dù ông được dân chúng, giáo hoàng và nhiều giám mục phương Tây ủng hộ, ông vẫn bị lưu đày. Ban đầu tới Cucasus ở Ácmênia và rồi tới Pontus, nơi ông từ trần vì bị buộc đi bộ trong thời thiết xấu, bất chấp lời khiếu nại nhiều lần rằng mình đang kiệt sức. Hôm đó là ngày 14 tháng Bảy.

Ba mươi mốt năm sau, di hài ông được đem về Conxtantinốp và được cải táng trong Thánh đường Các Tông đồ. Đối với giáo hội phương Tây, ông là một trong bốn Tiến sĩ Hội thánh nhóm Hi lạp; đối với giáo hội phương Đông, ông là một trong Ba Tôn Sư Hoàn Vũ và Phẩm Trật Thánh Thiện. Các tác phẩm của ông đem lại cho ông vai trò hàng đầu trong các giáo phụ như một nhà đạo đức học và một nhà chú giải Kinh Thánh. Đặc biệt, Lettres à Olympias - Thư gởi Olympias; và nhất là rất nhiều bài giảng về Kinh Thánh, trong đó có cả một loạt bài dài chú giải sách Phúc âm theo Thánh Mátthêu và theo Thánh Gioan. Các tác phẩm luận giải và luận văn của ông về Chức Tư Tế nổi tiếng nhất. Nhưng trên tất cả, ông là một nhà rao giảng. Gioan Kim khẩu rất hùng biện, nói dài, nhưng thẳng tới chủ đề, hoàn toàn thực dụng và vẫn còn thích hợp cho ngày nay. Tài năng diễn thuyết đã làm ông vang danh trong thế kỷ V, xứng đáng với biệt danh Chrysostome: miệng vàng.

Grêgôriô Núi Xinai. Nhà thần nghiệm. Sinh gần Smyna k.1290, mất tại Bulgaria năm 1346. L.k.: 27 tháng Mười một. Được phong thánh bởi giáo hội Chính thống giáo.

Sau khi bị mang đi khỏi quê nhà vì một cuộc đột kích của quân Thổ Nhĩ Kỳ Seljuk, và được các láng giềng của mình chuộc lại, Grêgôriô gia nhập các tu sĩ ở Núi Xinai. Một thời gian sau, ông bất đồng ý kiến và đi tới đảo Crete học hỏi việc thực hành cầu nguyện tinh thần với một tu sĩ khác. Khi đến Núi Athos, ông thất vọng vì thấy các tu sĩ ở đó hiểu biết quá ít ỏi về "Chiêm nghiệm và Tịnh khẩu chân chính." Vì thế, ông ở lại, rao giảng ý tưởng của mình cho các tu sĩ và các ẩn sĩ. Kế đến, một cuộc tấn kích khác của hải tặc làm ông rời Athos. Sau cùng, năm 1325, ông thiết lập một đan viện trên Núi Paroraria, gần Sozopol ở bờ tây của Hắc Hải. Ông sống ở đó suốt phần đời còn lại dù vẫn bị quấy nhiễu bởi quân Thổ Nhĩ Kỳ.

Grêgôriô viết rất ít nhưng lời giảng của ông có tác động sâu xa trong giáo hội Chính thống giáo. Ông nhấn mạnh tới tầm quan trọng của các hỗ trợ về thể lý (thí dụ việc thở đúng nhịp điệu) để làm hoàn hảo sự chú ý trong việc cầu nguyện tinh thần, vốn thuộc phần kỹ thuật Linh đạo tĩnh tọa của phái Palamas. Ông lập ba chi nhánh lớn thuộc dòng mẹ Lavra tại Macêđônia và dạy về việc cầu nguyện không ngừng. Tiểu sử đời ông do học trò của ông là Callistốt, Thượng phụ Conxtantinốp viết lại. Ông viết ít, nhưng lời giảng dạy của ông có ảnh hưởng rộng rãi trong Chính thống giáo.

Grêgôriô Palamas. Nhà thần nghiệm và nhà thần học. Tiến sĩ Hội thánh. Sinh tại Conxtantinốp k.1296, mất tại Salonika 1359. L.k.: 14 tháng Mười một. Ông được phong thánh bởi giáo hội Chính thống giáo.

Grêgôriô Palamas là người trình bày và là cột trụ của lý thuyết thần nghiệm và tu đức khổ hạnh, gây thành cuộc tranh luận rộng lớn trong giáo hội Chính thống giáo suốt thế kỷ thứ mười bốn. Lý thuyết này được gọi là Linh đạo tĩnh tọa (Hesychasm), hoặc đôi khi là Chủ trương Palamas, gọi theo tên của chính ông.

Ông là một tu sĩ Núi Athos. Khi Thổ Nhĩ Kỳ tấn công Hi lạp, ông đi Thêxalônica, chịu chức linh mục năm 1326 và được phong Tổng gám mục Thêxalônica năm 1347. Vào năm 1333, lời giảng của ông đưa ông vào cuộc tranh luận với một tu sĩ tài năng người Hi lạp, tên là Barlaam xứ Calabiria, đến từ miền nam nước Ý. Linh đạo tĩnh tọa là một học thuyết, thực hành và kỹ thuật mà những người ủng hộ nó tuyên bố là có thể đưa những người chiêm nghiệm tới một kiến thị về "ánh sáng tự nhiên mà có" (increated light) của Thiên Chúa. Những người chống đối nó thì phản bác rằng lời giảng của Grêgôriô về việc ấy xâm phạm đơn nhất tính và siêu việt tính của Thiên Chúa. Để phản bác lời tuyên bố cực đoan của Barlaam về tính chất bất khả tri của Thiên Chúa, Grêgôriô Palamas trong cuốn Triads in Defence of the Holy Hesychasts - "Tam thế biện hộ của Người Linh đạo tĩnh tọa" (k.1338), quả quyết rằng Thiên Chúa quả thật truyền đạt cho loài người sự am hiểu về bản thân Ngài, và kinh nghiệm về ánh sáng tự nhiên của Thiên Chúa trong chiêm nghi
ệm mà các tu sĩ tĩnh tọa tuyên bố là chân chính.

Grêgôriô Palamas được sự ủng hộ mạnh mẽ của các tu sĩ Núi Athos và cuộc tranh luận ấy kéo dài mười năm. Kế đó, vô số các bài viết của ông bị kết án và ông bị dứt phép thông công. Nhưng khi Gioan Cantacuzênốt lên ngôi vào năm 1347 và muốn tranh thủ sự ủng hộ của các tu sĩ Núi Athos, những người vốn có ảnh hưởng vô cùng sâu rộng trong dân chúng, nên nhà vua đã phục hồi cho Grêgôriô và bổ nhiệm ông làm Tổng giám mục Salônika. Lúc ấy, cuộc tranh luận về Linh đạo tĩnh tọa mở ra trở lại. Sau cùng, phía ủng hộ Grêgôriô khải hoàn, và lời giảng của ông được tuyên bố là chính thống bởi giáo hội Conxtantinốp năm 1351. Nhưng tới đây, ông đã quá mệt mỏi và sức khỏe sa sút trầm trọng.

Sáu năm sau khi ông qua đời, một Công đồng ở Conxtantinốp tấn phong Grêgôriô Palamas là Tiến sĩ Hội thánh Chính thống giáo. Trong những năm gần đây, tại phương Tây cũng như tại phương Đông, có phong trào khôi phục mối quan tâm về Linh đạo tĩnh tọa. Cùng với vai trò một nhà thần học suy lý quan trọng, Thánh Grêgôriô Palamas còn là một tôn sư và là một giáo sĩ tận hiến.

Isaác xứ Xiry. Theo bản tiếng Anh The Philokalia thì ông là Isaác xứ Niniveh. Ông là nhà khổ tu và thần bí phái lạc giáo Nestôriô, sống ở Ba tư và qua đời vào cuối thế kỷ VII. Di sản văn chương quan trọng của ông tạo ảnh hưởng rất lớn ở Đông phương nhưng khó xác định vì có thể lẫn lộn với rất nhiều nhà văn tâm linh cùng tên Isaác.

Nestôriô (k.381-k.450). Giám mục Conxtantinốp năm 428. Ông không công nhận Đức Giêsu là Ngôi Lời nhập thể mà rao giảng một quan điểm phi chính thống về bản tính của Đức Giêsu. Rằng: Đức Giêsu được cấu tạo bởi sự liên kết giữa hai ngôi vị, một ngôi vị thần linh là Lời (Logos) và một ngôi vị nhân linh là Đức Giêsu. Ông bị Công đồng Êphêsô (431) lên án là dị giáo. Những người tin theo lý thuyết này sau đó chuyển về sinh sống và rao giảng rộng rãi tại vùng Tây Bắc Trung hoa.]

Inhaxiô. Nếu là người sống đồng thời với Thượng phụ Callistốt thì chúng tôi không tìm được tiểu sử. Có lẽ ông cũng không thể là Inhatiô Loyola sáng lập Dòng Tên (1491-1556) vì lúc ấy thuộc hai giáo hội Đông Tây và hai khuynh hướng khác nhau. Có thể ông là Inhaxiô Thượng phụ Conxtantinốp. Một vị thánh của giáo hội cả Đông lẫn Tây phương, mất k.877. L.k.: 23 tháng Mười.

Inhaxiô Conxtantinốp là người bảo vệ giới luật khắt khe cho Giáo hội Byzance, chống lại ảnh hưởng của triều đình trên những sứ vụ của tăng lữ. Năm 857, ông từ chối cho Bađas, chú của vua Michael III rước lễ vì mắc loạn luân, do đó, ông bị lưu đày. Năm 867, dưới thời hoàng đế Basilius, ông được phục chức. Lúc qua đời, ông bị Giáo hoàng Gioan VIII nghi ngờ, vì ông không rút được phái đoàn truyền giáo Hi lạp về từ Bulgary, xứ đang bị Giáo hoàng xét xử.

Innôcentê Irkutsk. Ông là một trong những nhà truyền giáo vĩ đại của Nga trong thế kỷ 19. Nga hoàng Phêrô Đại đế bổ nhiệm và tấn phong ông làm giám mục đầu tiên tại Bắc Kinh nhưng vua Khang Hi không chịu cho thành lập giáo phận ngay tại Kinh đô. Sau đó, ông làm giám mục Giáo phận Irkutsk tại Nga và hoạt động như một giám mục truyền giáo suốt mười năm. Ông qua đời tại Irkutsk năm 1731.

Isikhi. Ông sinh trưởng tại Giêrusalem. Thuở nhỏ là môn sinh của Grêgôriô Nhà thần học (k.335-k.395). Ông ẩn tu tại Palestine trong vài năm, tới năm 412, được phong linh mục, và được kính trọng rộng rãi như một tôn sư và dịch giả Kinh Thánh. Ông mất khoảng năm 432-433.

Macariô Cả. Tu sĩ sa mạc. Sinh tại Thượng Ai cập k.300, mất tại Sketis k.390. L.k.: 15 tháng Giêng.

Là con của một nông dân và bản thân ông nguyên là một người chăn giữ súc vật. Ông là một trong những Tổ phụ Ai cập chủ trương sống giản dị và ẩn dật. Bị lôi cuốn mạnh mẽ bởi lối sống của các nhà ẩn tu, ông bỏ đi sống trong một hang động gần làng mình. Tới năm ba mươi tuổi, theo gương Thánh Antôn Cả, ông cùng một số tu sĩ khác rút vào hoang mạc Sketis gần Liby và Ai cập. Từ đó, ông nổi tiếng về khổ hạnh và minh triết. Ông được phong linh mục và trở thành thủ lãnh của cộng đoàn đó, nổi tiếng về quyền năng lạ lùng và khả năng ngôn sứ. Sau bốn mươi năm ẩn dật, ông bị người lạc giáo Ariô hành hạ vì chủ trương chính thống của mình và mất vào năm 90 tuổi. Ông để lại nhiều bài viết về cuộc sống tâm linh, nhưng không có gì bảo đảm tất cả là của ông trong đó có năm mươi bài giảng về tu đức.

Máccô Nhà khổ tu. Mất sau năm 430. Giáo hội phương Đông kính lễ ông vào ngày 5 tháng Ba.

Chỉ có thể khẳng định được đôi điều về Thánh Máccô Nhà khổ tu, còn được gọi là Máccô Tu sĩ hay Máccô Ẩn sỉ. Có người nói ông sống vào đầu thế kỷ thứ sáu, nhưng theo Thánh Nicôđêmốt, người đồng biên tập cuốn Philôkalia, thì ông sống vào đầu thế kỷ thứ năm, và như vậy có lẽ đúng. Có thể ông là đệ tử của Thánh Gioan Kim khẩu, nhưng không chắc. Theo Thư Gởi Nicolas Ẩn sĩ, thì có một giai đoạn ông sống như một nhà ẩn tu trong hoang mạc, đâu đó giữa Palestine và Ai cập. Trước đó, hình như ông là bề trên của một cộng đoàn gần Ankyra (Tiểu Á). Ông viết ít nhất là tám luận văn quan trọng về phép rửa tội, thống hối và chống lại lạc giáo Nestôriốt. Trong lời giảng tâm linh của mình, ông thẳng thắn và cách riêng, trong những tập sách của mình về khổ tu, ông chống lại phong trào tà giáo của Xyri về chủ trương Duy Cầu nguyện (Messalianism). Ông nhấn mạnh vai trò của ân sủng thanh tẩy và đưa ra những phân tích chi tiết về bản chất của sự cám dỗ.

Máccô Nhà lực sĩ tinh thần. Ông là một trong những Tổ phụ đan việnïAi cập cao cả nhất, nhưng người ta không biết nhiều về cuộc đời ông. Ông có tiếng là hòa nhã và dịu dàng, rất mê say việc học hỏi Kinh Thánh và thuộc lòng cả Cựu Ước và Tân Ước. Sống thọ tới hơn trăm tuổi và qua đời vào đầu thế kỷ thứ năm. Ông để lại sau mình gương mẫu về sự tận hiến cho việc Rước Mình Thánh Chúa và cuộc sống tâm linh. Các bài viết của ông mai một gần hết.

Marina. Nữ tu sĩ. Không biết năm sinh năm mất. L.k.: 12 tháng Hai.

Thân phụ bà là một tu sĩ tại Bithya. Ông cho bà cải trang làm một thiếu niên để sống bên cạnh ông. Khi ông qua đời, bà vẫn không bị tu viện khám phá. Bà bị kết án là có với con gái chủ quán trọ một đứa con. Sau sáu năm bị trục xuất, bà được tu viện nhận lại. Tới khi bà qua đời, sự thật về phái tính của bà mới bị khám phá. Câu chuyện này mang tính cách truyền thuyết và khuếch đại văn học.

Maximô Người tuyên tín. Tu viện trưởng. Sinh tại Conxtantinốp k.580, mất gần Batum năm 662. L.k.: 13 tháng Tám.

Theo lối nói thời Kitô giáo sơ khai, Người tuyên tín là kẻ anh dũng tuyên xưng đức tin và chịu trừng phạt tuy không có ơn phước được tử vì đạo. Maximô thuộc một gia đình quí tộc, được bổ nhiệm làm Chánh văn phòng ngự tiền của Hoàng đế Eraclius, nhưng sau một thời gian, ông từ chức và trở thành tu sĩ tại Chrysopolia (Skutari). Ông được bầu làm bề trên của cộng đoàn, nhưng tới năm 626, cộng đoàn tan rã trước cuộc tiến quân của người Ba tư. Ông bỏ tới Alexandria, sau đó đi Carthage và tới Rôma. Tại đây, ông tích cực ủng hộ Thánh Giáo hoàng Máctinô I (649-655) chống lại một giáo thuyết phi chính thống được gọi là Đơn Tính và Nhất Ý, và một đạo dụ thỏa hiệp của Hoàng đế Constans II. [Phái Đơn Tính cho rằng Đức Giêsu chỉ có một bản tính duy nhất là thần tính. Phái Nhất Ý cho rằng Ngài chỉ có một ý muốn duy nhất là thần ý, do Sergius, Thượng phụ Conxtantinốp, đưa ra để hoài giải với phái Đơn Tính. Về sau, Công đồng Conxtantinốp năm 681 tuyên bố chủ trương ấy là lạc giáo vì nó phủ nhận bản tính con người của Đức Giêsu và như thế, đưa tới hệ luận rằng công cuộc cứu rỗi nằm ngoài tầm với của loài người.]

Năm 653, chung số phận với ĐGH Máctinô, Maximô cuối cùng bị giải về Conxtantinốp như một tội nhân. Sau nhiều năm bị hành hạ, quấy nhiễu và đày ải, ông bị kết án đánh đòn, cắt lưỡi, chặt bàn tay phải và giam cầm vĩnh viễn vì khinh thị hoàng đế. Bản án dã man ấy được thực hiện và ông lão Maximô (lúc đó khoảng 82 tuổi) bị giải tới Skhemania, một đồn binh heo hút ở cuối bờ Hắc Hải. Chẳng bao lâu, ông qua đời tại đó. Thánh Maximô, Người tuyên tín là một nhà thần học và thần nghiệm quan trọng. Ông để lại những tác phẩm tín lý, một công trình tu đức độc đáo: Chapitres Gnostiques-Các chương đoạn về ngộ đạo; Mystagogie-Khai tâm các mầu nhiệm. Và đặc biệt, cuốn Four Centuries of Charity-Bốn trăm chương đoạn về bác ái, với các cách ngôn và những trầm tư, được đánh giá là một trong những tác phẩm sâu sắc và tuyệt vời nhất trong mọi văn bản của Kitô giáo; có hai bản dịch tiếng Anh. Với những công trình ấy, ông trở thành một trong những nhà thần bí đông phương có nhiều ảnh hưởng nhất. Ngày nay, ông được đặc biệt nhắc nhở nhờ các luận văn về khổ hạnh và thần nghiệm; và vẫn còn vang vọng câu nói của ông ở bên bàn kìm kẹp: "Không có gì mãnh liệt bằng sự trách cứ của lương tâm, cũng không có gì vững lòng hơn sự tán thành của lương tâm."

Nicêphôrê Nhà ẩn tu. Tu sĩ khổ hạnh vĩ đại của Núi Athos, qua đời khoảng trước năm 1340. Ông là tôn sư linh hướng của Thánh Grêgôriô Palamas.

Nicêtas Stêthatốt. Ông là trưởng lão Viện Nghiên cứu của Chính thống giáo vào thế kỷ 11 và là môn sinh của Simêon Nhà thần học mới. Về mặt đức hạnh và khôn ngoan ông được ví như một mặt trời song sinh với tôn sư của mình.

Phêrô Damacus. Còn gọi là Phêrô Đamasxênê. (? thế kỷ 11-12).

Philôthêốt Núi Xinai. Ông là tu viện trưởng của một cộng đoàn tu tập người Slave ở Núi Xinai. Không biết chính xác thời điểm.

Phôtiốt. Giám mục. Sinh tại Conxtantinốp k.810, mất tại đó k.891. Được phong thánh bởi Giáo hội Chính thống giáo. L.k.: 6 tháng Hai.

Thuộc một gia đình quí tộc Byzance, Phôtius là người tài năng xuất sắc và học hỏi suốt nửa đời người, phục vụ công chúng với kiến thức uyên bác của mình, ông làm quốc vụ khanh tại triều đình và hướng dẫn các cơ quan chính quyền khác. Tới năm 858, Hoàng đế Micael III truất phế Thượng phụ Inhaxiô; Photius lúc ấy vẫn là một giáo dân, bị nhà vua đưa lên thay chỗ, làm Thượng phụ. Từ đó trở đi, cuộc đời Phôtiốt lâm vào những gay cấn và nan giải với Thánh Giáo hoàng Nicôlas I rồi tiếp tới Giáo hoàng kế vị, Andrianô II, và bị rắc rối thêm lên bởi những thăng trầm bất thường trong sinh hoạt chính trị của Byxance - một cuộc tranh chấp lâu dài, phức tạp và thường mờ mịt, thuộc về vấn đề lịch sử tổng quát của giáo hội. Tranh chấp kéo dài cho mãi tới năm 879, khi Phôtiốt làm Thượng phụ lần thứ hai và vào cuối cuộc đời, ông được Giáo hoàng Gioan VIII công nhận là một Thượng phụ hợp pháp của Conxtantinốp, và hòa bình lại được vãn hồi giữa các giáo hội.

Đối với các Kitô hữu Chính thống giáo phương Đông, Thánh Phôtiốt là người lính tiên phong của giáo hội mình trong những bất đồng quan điểm với Giáo hoàng La mã; đối với người Công giáo La mã, ông là một thủ lãnh ly giáo kiêu ngạo và đầy tham vọng. Trong nhiều thế hệ qua, các tác phẩm thích đáng của các học giả đã góp công rất nhiều vào việc làm thay đối những phán xét có tính cách phe phái đó. Tất cả đều đồng ý về đức hạnh trong cuộc sống cá nhân của Phôtius và các tài năng đặc biệt, gần như là thiên tài của ông, cũng như trình độ kiến thức bao la của ông trong rất nhiều lãnh vực. Ông được Giáo hoàng Nicôlas đánh giá là 'đức hạnh cao cả và kiến thức uyên bác.' Sách ông gồm: Myiobiblion, mô tả và tóm lược từ 279 cuốn thuộc nhiều loại, và đặc biệt cuốn Mystagory of the Holy Spirit bàn về bí nhiệm Đức Chúa Thánh Thần. Vào cuối đời, Phôtius bị truất chức và bị đày đi Armênia năm 886.

Plato. Hoặc Platon. Triết gia Hi lạp. Sinh ở Egine gần Athen k.429 trước Công nguyên và mất k.347. Ông là học trò của Socrates và là thầy của Asistotle. Năm 389, ông lập tại Athen một trường triết học có tên là Academy (Viện Hàn lâm) trong vườn Academos và dạy ở đó suốt bốn mươi năm, đề cập đến tất cả mọi vấn đề trong thời đại ông. Triết thuyết Plato có đặc điểm là thực hành biện chứng pháp và xem như một định đề rằng trí óc con người nhạy bén với cái tuyệt đối, vượt quá cái khả giác để đạt tới Ý tưởng, cái là lãnh vực của khả năng tư duy thuần túy và là những thực tại duy nhất mà các hiện tượng của chúng chỉ là những bóng mờ, những nguyên lý của sự hiện hữu cũng như của tri thức.

Simêon Nhà thần học mới. Sinh tại Paphlagonia 949, mất tại Conxtantinốp 1022. L.k.: 12 tháng Ba.

Ông lớn lên tại Conxtantinốp và trở thành tu sĩ của Viện Nghiên cứu. Bắt đầu từ mười bốn tuổi và suốt đời, ông có những khải thị sâu xa và bí nhiệm. Tìm kiếm một đời sống tu trì nghiêm nhặt hơn, ông chuyển đến đan viện Thánh Mamas và làm tu viện trưởng ở đó trong hai mươi năm. Về sau, bị oán ghét, ông lập một tu viện riêng và sống yên ổn tới cuối đời. Cuốn The Method - Phương pháp, trình bày phương pháp cầu nguyện bằng chiêm nghiệm và cách dùng Lời Cầu Nguyện Đức Giêsu mà về sau được minh xác không phải là của ông, nhưng ông đã gây ảnh hưởng lớn lao trong việc quảng bá phương pháp đó. Tên của ông được giải thích nhiều cách khác nhau, có người cho là 'Simêon, người tuổi trẻ, nhà thần học'; nhưng theo Nicêtas Stêthatốt, kẻ viết tiểu sử ông, thì tên đó nhắc tới Thánh Gioan Người thiêng liêng, và như thế có nghĩa ông là "Thánh Gioan mới."

Thêôlép thành Philadenphia. Một tu sĩ Núi Athos nơi về sau trở thành Thủ phủ Philadelphia. Trong số các học trò của ông có Thánh Grêgôriô Palamas.


Sách tham khảo cho Phần Phụ Lục
Liệt kê và Cảm tạ

1. Giáo Phụ (Hai tập) dịch từ tiếng Pháp của J. Liébaert.
Trở Về Nguồn, Sàigòn.

2. Kinh Thánh, Nguyễn Thế Thuấn, Sàigòn, 1975

3. Kinh Thánh Tân Ước, Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ, Sàigòn, 1994.

4. Lịch sử Giáo Hội Công Giáo, Hồng Phúc CSsR. Sàigòn.

5. Thánh Công Đồng Chung Vaticanô II, Giáo Hoàng Học Viện PIÔ X

6. Tự điển Đức Tin Kitô giáo, dịch từ tiếng Pháp, O. de La Brosse..., Sàigòn.

7. Từ vựng Triết Thần Căn Bản Anh Pháp Việt. 1996. Paris.

Ngô Minh và Nguyễn Thế Minh.

8. After Jesus, The Triumph of Christianity. Reader's Digest, 1992

9. Dictionary of Beliefs and Religions, Larousse, 1995.

10. The HarperCollins Dictionary of Religions, 1995.

11. The Oxford Dictionary of Saints, 1978.

12. The Oxford Dictionay of World Religions, 1997.

13. The Penguin Dictionary of Saints, 1979.

(Hết tác phẩm)

Print In trang | sendtofriend Email | back Trở về
  
Tin/Bài mới
Đức Mẹ Maria Hoa Hồng Mầu Nhiệm (5) (7/16/2013)
Đức Mẹ Maria Hoa Hồng Mầu Nhiệm (4) (7/16/2013)
Đức Mẹ Maria Hoa Hồng Mầu Nhiệm (3) (7/16/2013)
Đức Mẹ Maria Hoa Hồng Mầu Nhiệm (2) (7/16/2013)
Đức Mẹ Maria, Hoa Hồng Mầu Nhiệm (1) (7/16/2013)
Tin/Bài khác
Cn 1940: Đức Mẹ Maria Đạp Đầu Con Rắn (3) (7/5/2016)
Cn 1939: Đức Mẹ Maria Đạp Đầu Con Rắn (2) (7/5/2016)
Cn 1938: Đức Mẹ Maria Đạp Đầu Con Rắn (1) (7/4/2016)
Đức Mẹ Tự Do (7/12/2013)
Các Kết Quả Của Kinh Mân Côi An Ủi Và Cứu Các Linh Hồn Ra Khỏi Luyện Ngục (7/10/2013)
MeMaria.org -- Từ 15/4/1999 lần truy cập -- Kim Hà [Valid RSS]
Copyright © 2011 www.memaria.org. All Rights Reserved. Powered by VNVN System Inc.
Best view with IE 7.0, Fire Fox, resolution 1024x768