MeMaria.org
Radio Giờ Của Mẹ - Giờ Bình An - Giờ Tin Yêu - Giờ Hy Vọng
(714) 265-1512. Email: Kim Hà
banner
Skip Navigation Links.
Expand <span onmouseover='TreeView_ToggleNode_Hover(this)' onmouseout='TreeView_ToggleNode_Out(this)'>Tài Liệu Về Đức Mẹ</span>Tài Liệu Về Đức Mẹ
Expand <span onmouseover='TreeView_ToggleNode_Hover(this)' onmouseout='TreeView_ToggleNode_Out(this)'>Đức Mẹ Việt Nam</span>Đức Mẹ Việt Nam
Lòng Thương Xót Chúa
Mục Bác Ái / Xin Giúp Đỡ Vn
Expand <span onmouseover='TreeView_ToggleNode_Hover(this)' onmouseout='TreeView_ToggleNode_Out(this)'>Tiểu Mục</span>Tiểu Mục
Expand <span onmouseover='TreeView_ToggleNode_Hover(this)' onmouseout='TreeView_ToggleNode_Out(this)'>Đề Mục Chính</span>Đề Mục Chính
Gallery
Expand <span onmouseover='TreeView_ToggleNode_Hover(this)' onmouseout='TreeView_ToggleNode_Out(this)'>Tác Giả Và Tác Phẩm</span>Tác Giả Và Tác Phẩm
Google Search
memaria www  

Local Search
PayPal - The safer, easier way to pay online!
top menu :: mẹ maria
Thay đổi kích cỡ chữ đọc:
  
Chuyện Người Hành Hương (10)
Thứ Bảy, Ngày 13 tháng 7-2013

Chuyện Người Hành Hương (10)

Nguyên tác: Một Kitô hữu Nga

Biên dịch: Nguyễn Ước

Người mù và con, chúng con tiếp tục đi từng quãng ngắn một, mỗi ngày chừng mười tới mười lăm cây số. Trong những lúc nghỉ ngơi, chúng con ngồi xuống chỗ vắng vẻ, đọc cuốn Philôkalia. Con đọc cho anh ấy nghe từ đầu tới cuối phần nói về việc cầu nguyện bằng con tim, theo thứ tự mà tôn sư quá cố đã chỉ cho con, nghĩa là, bắt đầu với những bài viết của Nicêphorê Nhà ẩn tu, Grêgôriô Núi Xinai và vân vân. Anh lắng nghe tất cả những lời ấy một cách hết sức háo hức và tỉ mỉ, và những lời ấy mang lại cho anh hạnh phúc vô ngần! Rồi anh khởi sự đặt cho con nhiều câu hỏi về cầu nguyện tới độ trí khôn con không thể nào trả lời nổi.

Khi chúng con đọc trong cuốn Philôkalia những gì mình cần, anh khẩn khoản nài nỉ con trình bày cho anh thấy cách cụ thể mà tâm trí tìm thấy con tim, làm thế nào mang danh cực thánh của Đức Giêsu Kitô vào trong con tim và làm thế nào tìm thấy nỗi hân hoan của việc cầu nguyện trong lòng bằng trái tim mình. Con nói hết cho anh ấy nghe về việc đó như sau:

- Lúc này là một người mù anh không thể thấy gì. Tuy nhiên thực tế anh có thể tưởng tượng bằng tâm trí của anh và tự mình hình dung những gì mình đã thấy trong quá khứ, thí dụ một người nào đó, một vật nào đó hoặc một trong hai chân hai tay của anh. Chẳng hạn, anh có thể hình dung được bàn tay hay bàn chân của anh một cách hết sức rõ ràng như thể anh đang nhìn thấy nó không? Anh có thể hướng mắt anh tới nó, chú mục vào nó tuy rằng mắt anh đang mù không?

Anh trả lời:

- Được, tôi làm được việc đó.

Con liền giải thích với anh như sau:

"Như vậy theo cách y như tôi vừa nói, anh hãy tự hình dung cho anh thấy trái tim của anh, bằng mắt anh nhìn vào nó như thể anh đang ngó nó xuyên qua lồng ngực anh, hình dung nó hết sức rõ ràng nhất có thể được. Và bằng tai mình, anh lắng nghe tỉ mỉ tiếng đập của nó, từng nhịp từng nhịp.

"Một khi đã nhập vào cách lắng nghe đó rồi thì chúng ta hãy bắt đầu lắp những tiếng của câu cầu nguyện ấy ăn khớp với nhịp đập của trái tim. Từ tiếng này sang tiếng khác, mắt luôn luôn ngó trái tim mình. Như vậy, với tiếng tim đập thứ nhất, anh hãy nói hoặc nghĩ: 'Chúa', với tiếng đập thứ hai: 'Giêsu', với tiếng đập thứ ba: 'Kitô', với tiếng đập thứ tư: 'xin thương', và với tiếng đập thứ năm 'xót con'. Và anh hãy lặp đi lặp lại như vậy.

"Việc đó sẽ trở nên dễ dàng cho anh hơn vì anh đã biết sẵn căn bản và phần đầu tiên của sự cầu nguyện bằng tâm hồn. Sau đó, khi anh quen dần với những gì mà tôi vừa nói thì anh phải khởi sự đem trọn vẹn câu cầu nguyện Đức Giêsu ấy vào và ra trái tim của anh, ăn khớp với việc hô hấp của anh, như các Giáo phụ thánh thiện đã dạy. Vậy, khi hít hơi thở vào anh hãy nói hoặc hãy tưởng tượng mình đang nói: 'Chúa Giêsu Kitô', và khi anh thở hơi ra thì: 'xin thương xót con'.

"Anh hãy làm như vậy thường xuyên hết sức có thể được của mình. Trong một khoảng thời gian ngắn, anh sẽ cảm thấy trong trái tim mình nhoi nhói đau nhưng không khó chịu, và tiếp đó là nồng ấm. Tuy thế, với sự giúp đỡ của Thiên Chúa, anh sẽ có nỗi hân hoan của việc cầu nguyện tự động trong lòng bằng con tim mình. Nhưng lúc ấy dù anh có làm việc gì đi nữa thì cũng phải canh chừng mình chống lại sự tưởng tượng hoặc bất cứ loại ảo giác nào. Dù thế nào đi nữa anh cũng đừng chấp nhận chúng chút nào, vì các Giáo phụ đã hết sức nhấn mạnh rằng phải giữ việc cầu nguyện trong lòng khỏi các ảo giác, e ngại rằng ta sa chước cám dỗ."

Người mù lắng nghe kỹ tất cả những lời ấy và bắt đầu hăng hái hết lòng thực hiện những gì con trình bày với anh. Anh trải qua một thời gian dài với nó, đặc biệt vào lúc ban đêm tại những chỗ chúng con dừng chân. Trong khoảng thời gian năm ngày, anh bắt đầu cảm thấy ấm áp cực kỳ cùng với nỗi hạnh phúc không nói nên lời của con tim mình và niềm ao ước một cách sâu xa tận hiến không ngừng bản thân cho lời cầu nguyện ấy, một lời cầu nguyện đã và đang làm dấy lên trong anh tình yêu thương Đức Giêsu Kitô.

Thỉnh thoảng anh thấy ánh sáng dù anh không phân biệt được các vật trong đó. Thỉnh thoảng, khi anh mở lối vào con tim mình, thì đối với anh hình như có một ngọn lửa, giống như ngọn lửa của một cây nến đang cháy, bùng sáng mạnh mẽ và sung sướng trong con tim anh và chiếu ra ngoài qua cổ họng anh làm bản thân anh tràn ngập và bồng bềnh trong ánh sáng; và trong ánh sáng của ngọn lửa ấy, anh có thể thấy cả những vật ở một nơi xa xôi nào đó.

Quả thật có lần đã xảy ra việc như vậy. Lúc ấy chúng con băng ngang một khu rừng, anh đang im lặng, buông bỏ mọi sự cho lời cầu nguyện. Đột nhiên anh nói với con:

- Tội nghiệp chưa! Nhà thờ đang bị cháy kìa! Đó, tháp chuông sụp xuống rồi!

Con gạt ngang:

- Anh hãy ngưng cái việc mơ màng hão huyền ấy, nó là sự cám dỗ anh. Anh phải lập tức đặt tất cả những tưởng tượng đó qua một bên. Làm sao mà anh có thể thấy được cái đang xảy ra ở thị trấn? Mình còn cách chỗ đó tới mươi mười hai cây số!

Anh nghe lời con và trong im lặng, tiếp tục với lời cầu nguyện. Lúc trời chạng vạng, chúng con tới thị trấn, và tại đó, thực tế con thấy có mấy ngôi nhà bị cháy và một tháp chuông bị đổ. Tháp chuông đó được dựng lên bằng các phiến gỗ, người ta bu đông chung quanh, thắc mắc không hiểu tại sao tháp chuông sập xuống tan nát mà không văng trúng ai cả. Khi con tìm hiểu rõ ràng thì sự việc bất hạnh ấy xảy ra đúng vào lúc người mù nói với con về nó. Và người mù lại bắt đầu nói với con về vấn đề ấy. Anh nói:

- Anh bảo tôi rằng thị kiến đó của tôi là hão huyền, nhưng anh thấy tại đây quả thật đã xảy ra những việc đúng y như tôi thấy chúng. Làm sao tôi có thể không cám tạ và yêu thương Chúa Giêsu Kitô, Đấng phô bày ơn sủng của Ngài cho cả những người tội lỗi, người mù và người rồ dại! Và tôi cũng cám ơn anh vì anh đã dạy tôi về công việc của con tim.

Con nói:

"Chúng ta hãy yêu thương Đức Giêsu Kitô và hãy cám tạ Ngài hết ý nguyện của mình. Nhưng anh hãy coi chừng việc lấy các thị kiến của anh làm những mạc khải trực tiếp của ơn sủng. Vì các cái như thế có thể xảy ra một cách hoàn toàn tự nhiên trong trật tự của vạn vật. Linh hồn con người vốn không bị trói buộc bởi nơi chốn và sự vật cố định nào. Nó còn có thể thấy cả trong bóng tối và những gì xảy ra ở nơi xa xôi cũng như những gì gần trong tầm tay. Chỉ có điều là chúng ta không đưa ra sức mạnh và mức độ của mình cho quyền năng tâm linh ấy. Chúng ta nghiền nát nó dưới cái ách của thể xác nặng nề của mình hoặc làm cho nó rối rắm với những ý nghĩ và các ý tưởng bất chợt của mình. Nhưng khi chúng ta tập trung vào bên trong bản thân, khi chúng ta rút lui khỏi mọi sự chung quanh mình và trở nên tinh tế hơn, thuần khiết hơn trong tâm hồn mình, thì lúc đó, linh hồn lại trở vào chính nó và thao tác tới mức độ mạnh mẽ trọn vẹn nhất. Như thế, việc vừa xảy ra đó cũng là khá tự nhiên.

"Tôi từng nghe tôn sư quá cố của tôi nói rằng có những kẻ - giả dụ ngay cả người không hiến mình cho việc cầu nguyện nhưng lại là loại người có năng lực ấy, hoặc sở đắc được nó qua bệnh tật - thấy được cả ánh sáng trong căn phòng bóng tối đen đặc như thể nó tuôn ra từ các đồ vật trong bóng tối và thấy mọi sự từ bóng tối. Có những kẻ thấy người giống y hệt mình và thấy mình nhập vào ý nghĩ của người khác.

"Nhưng trong trường hợp cầu nguyện của tâm hồn mình, cái phát xuất trực tiếp từ ơn sủng của Thiên Chúa thì chứa chan dịu ngọt và hân hoan tới độ không miệng lưỡi nào có thể kể nổi về nó và bất cứ cái gì có tính cách vật chất cũng không thể so sánh nổi với nó - nó vượt ra ngoài mọi sự so sánh. Mọi cảm xúc đều dựa trên căn bản so sánh với sự hiểu biết dịu ngọt ấy về ơn sủng trong tâm hồn."

Người bạn mù của con háo hức lắng nghe những lời đó và càng lúc càng khiêm tốn hơn. Việc cầu nguyện mỗi lúc một lớn mạnh thêm trong trái tim anh và làm anh hân hoan không lời nào diễn tả nổi. Với tất cả linh hồn con, con mừng rỡ về chuyện đó và từ trái tim con, con cám tạ Thiên Chúa rằng Ngài đã cho con được ơn phước gặp một tôi tớ của Ngài.

Sau cùng, chúng con tới Tobolsk. Con đưa anh ấy vào viện tế bần. Để anh ở lại đó với lời giã biệt đầy yêu thương, con tiếp tục con đường của mình.

Con lại thong dong bước đi trong chừng một tháng với cảm giác sâu xa về lối sống mà những cuộc đời đức hạnh vừa dạy bảo và vừa khích lệ chúng ta noi theo. Con đọc được vô số điều trong cuốn Philôkalia, mà nội dung của chúng bảo đảm tất cả những gì con đã nói với người bạn mù về cầu nguyện. Gương của người mù ấy làm rực cháy trong con sự nhiệt huyết, biết ơn và yêu thương Thiên Chúa. Lời cầu nguyện trong trái tim mình cho con sự an ủi tột độ tới nỗi con cảm thấy trên thế gian này chẳng có người nào hạnh phúc hơn mình, và con hoài nghi rằng không biết ở nước thiên đàng có sự hạnh phúc trọn vẹn và lớn lao hơn thế này không.

Con không chỉ cảm thấy điều ấy trong tâm hồn mình mà còn cảm thấy đối với con, dường như toàn bộ thế giới bên ngoài cũng chất ngất hấp dẫn và hoan lạc. Vạn vật lôi cuốn con tới yêu thương và cám tạ Thiên Chúa: con người, cỏ cây, hoa lá và loài vật. Con thấy chúng hết thảy đều là họ hàng thân thích của con. Con tìm thấy trên mỗi thứ đó đều có sự huyền nhiệm của tên Đức Giêsu.

Đôi khi con cảm thấy rất đỗi nhẹ nhàng như thể mình không có thể xác và mình đang bềnh bồng hạnh phúc trong không trung chứ không phải là đang đi bộ. Đôi khi, trong lúc rút vào bản thân, con thấy rõ ràng lục phủ ngũ tạng bên trong mình và lòng tràn đầy kinh ngạc về sự khôn ngoan mà với nó thân xác của con người đã được tạo ra. Đôi khi con cảm thấy quá đỗi hân hoan như thể mình làm hoàng đế nước Nga. Và suốt tất cả những lúc hạnh phúc đó, con ao ước Thiên Chúa để cho cái chết xảy ra ngay tức khắc với con và để cho con, trong sự cám tạ, được tuôn trào con tim con dưới chân Ngài trong một thế giới đầy thần khí.

Hình như bằng cách này hoặc cách khác, cách nào con cũng vẫn có được niềm hân hoan lớn lao trong các cảm xúc này, hoặc có thể nó chỉ được để cho xảy ra do thánh ý của Thiên Chúa, nhưng đôi khi con cảm thấy trong trái tim mình có cái gì đó đang run rẩy và sợ hãi. Con tự hỏi không biết đây có phải là một bất hạnh hoặc một rắc rối mới nào đó sắp xảy tới cho con không, như chuyện đã xảy ra sau khi con gặp lại cô thôn nữ mà trước đó tại nhà nguyện con đã dạy cô ấy về việc cầu nguyện Đức Giêsu?

Những ý nghĩ đó như mây mờ phủ trên con và con nhớ lại lời đấng đáng tôn kính Gioan Karpathisky đã nói: "Người làm thầy sẽ thường chịu sỉ nhục, chịu tai hoạ và thử thách vì lợi ích của những kẻ qua người thầy đó mà thu được lợi lộc tinh thần." Con chiến đấu chống những ý nghĩ u ám đó và cầu nguyện với lòng hăng say hơn bao giờ hết. Lời cầu nguyện xua sạch các ý nghĩ đó và làm tâm hồn con bình tĩnh trở lại. Con nói: 'Con xin vâng theo thánh ý Thiên Chúa, con sẵn sàng chịu bất cứ điều gì Đức Giêsu Kitô gởi tới cho con vì sự tinh quái bại hoại và tính kiêu ngạo của con.' Và những kẻ mà mới đây con phô bày bí quyết việc đi vào con tim thì trước khi gặp gỡ con họ đã có sự cầu nguyện trong lòng và họ đã được chuẩn bị sẵn bởi lời dạy trực tiếp và thầm kín của Thiên Chúa.

Những ý nghĩ đó làm lòng con lắng xuống. Con lại tiếp tục cất bước với tâm hồn chan chứa ủi an, tiếp tục lời cầu nguyện và còn cảm thấy hạnh phúc hơn cả trước đây.

Trời mưa suốt mấy ngày. Con đường lầy lội tới độ khó khăn lắm con mới rút được chân ra khỏi sình lầy. Con đang đi ngang một đồng cỏ, suốt quãng đường khoảng trên dưới mười sáu cây số, con không tìm được chỗ trú ẩn nào. Cuối cùng, lúc đêm vừa xuống, con bắt gặp một ngôi nhà đứng trơ trọi bên đường. Mừng rỡ khi thấy nó, con nghĩ mình nên vào nơi đây xin chỗ nghỉ ngơi qua đêm và chờ xem Thiên Chúa gởi cái gì đến cho mình; biết đâu thời tiết sẽ khá hơn. Khi tới gần, con thấy một ông lão mặc áo khoác nhà binh đang ngà ngà say ngồi trên ngạch cửa. Con chào ông ấy và nói:

- Thưa ông, không biết ở đây ai là người cháu có thể xin phép ở lại qua đêm?

Ông lão la lên:

- Ta đây chớ ai. Ngoài ta ra thì còn ai có thể cho phép nhà ngươi? Ta là chủ ở đây. Đây là trạm bưu chính và ta trông coi trạm này.

- Vậy thưa ông, xin ông cho phép cháu được nghỉ lại một đêm ở nhà ông.

- Nhà ngươi có giấy thông hành không? Đưa ta coi giấy tờ hợp pháp của nhà ngươi.

Con đưa ông lão giấy thông hành. Cầm nó trong tay mình rồi ông còn hỏi nữa:

- Giấy thông hành của nhà ngươi đâu?

Con trả lời:

- Ông đang cầm nó đó.

Lúc ấy ông nói:

- Được rồi, vô nhà đi.

Ông mang kính đeo mắt vào, đọc giấy thông hành rồi nói:

- Xong. Mọi sự đúng luật. Nhà ngươi hãy ở lại qua đêm. Ta thật sự là một đồng bào tốt. Làm một ly nhé.

Con trả lời:

- Cháu không uống rượu, và chẳng bao giờ uống rượu.

- Được, tùy ngươi, ta cóc cần. Dù sao cũng phải dùng tí xúp.

Họ ngồi vào bàn ăn, ông lão và người đầu bếp, một phụ nữ trẻ cũng đang nhậu thoải mái và yêu cầu con cùng ngồi xuống với họ. Suốt bữa ăn, cả hai cãi lộn, mắng chửi nhau xối xả, và sau cùng dở đấm dở đá ra. Ông lão bỏ đi vô hành lang tới giường ngủ nơi một căn buồng làm bằng gỗ trong khi chị đầu bếp bắt đầu dọn dẹp, rửa muỗng dĩa, vừa làm vừa làu bàu nguyền rủa ông chủ mình. Con kiếm chỗ ngồi, nghĩ chắc là phải một chốc nữa chị ấy mới dịu người lại. Rồi con hỏi chị con có thể ngủ ở chỗ nào vì sau chặng đường vừa rồi con rất mệt. Chị trả lời:

- Tôi sẽ sửa soạn giường cho anh.

Rồi chị kê thêm một băng ghế sát với chiếc băng ghế đã đặt phía dưới cửa sổ nhìn ra đường, trải lên chúng chiếc mền nỉ và đưa con một chiếc gối. Con nằm xuống, nhắm mắt như thể đang ngủ. Tuy vậy, chị đầu bếp lăng xăng ra vào một lúc lâu, sau cùng chị dọn dẹp, thổi tắt lửa và đi về phía con.

Thình lình, toàn bộ cửa sổ - vốn nằm trong một góc ở mặt tiền ngôi nhà - khung cửa, kính, các thanh gỗ văng tứ tung thành từng mảnh, đổ ập xuống cùng với một tiếng đụng chạm thật ghê rợn. Toàn bộ ngôi nhà rúng động. Từ bên ngoài cửa sổ vang lên tiếng rên rỉ đau đớn và những tiếng la, những tiếng động huỳnh huỵch như tiếng vật lộn. Người đàn bà khiếp đảm vọt lùi trở lại giữa nhà, sụm xuống nằm một đống trên sàn nhà. Con nhảy đựng mất hồn mất vía, nghĩ là mặt đất đang toác ra dưới chân mình.

Kế đó con thấy có hai người đánh xe đang khiêng vô nhà một người đàn ông mình mẩy đầy máu me tới độ không thấy rõ mặt, và cái đó lại càng làm con thêm khiếp đảm. Người đàn ông đó là sứ giả của nhà vua đang phóng xe phi nước đại tới đây để thay ngựa. Người đánh xe quẹo lệch đường vào cổng nên càng xe đâm thẳng vô cửa sổ và vì trước nhà có đường mương nên xe lật nhào, ném sứ giả của đức vua văng ra ngoài, người ông va trúng chiếc cột sắc cạnh nên bị bể đầu rất nặng.

Ông đòi ít nước và rượu để rửa vết thương. Rồi ông uống một ly và thét lớn:

-Ngựa đâu!

Con tới bên ông và nói:

- Thưa ngài, có ngay, nhưng liệu với vết thương như thế này ngài có thể đi thêm được tí nào không ạ?

Ông trả lời:

- Sứ giả của đức vua thì đâu có thì giờ đau với ốm.

Nói xong, ông vọt lên ngựa phóng đi. Hai phu xe kéo người đàn bà đang bất tỉnh tới góc nhà gần lò sưởi, lấy tấm thảm đắp cho chị và nói:

- Chị ta khiếp hãi quá. Rồi sẽ tỉnh lại yên ổn thôi.

Ông lão trưởng trạm uống thêm một ly nữa rồi trở vô giường để con lại một mình. Chẳng bao lâu người đàn bà đứng lên, bắt đầu đi lui đi tới trong phòng từ góc này sang góc khác, đờ đẫn mất hồn. Cuối cùng, chị đi ra khỏi nhà. Con cảm thấy như thể cơn chấn động vừa qua đã rút hết tất cả sức lực của mình, sau khi đọc kinh, con lịm người ngủ được một lúc trước khi trời rạng sáng.

Tới sáng con từ giã ông lão và lại lên đường. Trong khi cất bước con dâng lời cầu nguyện với đức tin, lòng trông cậy và cám tạ lên Đức Chúa Cha về tất cả ơn phước, ủi an và đã cứu con khi con lâm cơn cực kỳ nguy hiểm vừa rồi.

Sau ngày xảy ra chuyện đó chừng sáu năm, con đi ngang một tu viện, vào nhà thờ để cầu nguyện. Sau thánh lễ, bà tu viện trưởng ân cần chào con và mời vào gian buồng của bà để cùng dùng trà. Thình lình có khách đột xuất tới thăm, bà phải đi gặp họ và để con lại với vài nữ tu phục dịch trong gian buồng của bà. Một trong các nữ tu đó đang rót trà, và rõ ràng là một linh hồn khiêm nhượng tới độ làm con tò mò hỏi không biết dì ở trong tu viện này lâu chưa.

Dì trả lời:

- Được năm năm rồi. Khi người ta đem tôi tới đây thì tôi đang mất trí, và chính tại đây Thiên Chúa thương xót tôi. Mẹ bề trên giữ tôi lại trong buồng của mẹ để phục dịch mẹ và được mẹ hướng dẫn tu tập.

Con hỏi:

- Làm sao mà dì bị mất trí?'

Dì trả lời:

- Thật kinh khiếp. Lúc ấy tôi làm việc tại một trạm bưu chính. Khuya đêm đó có mấy con ngựa lao thẳng vô cửa sổ. Tôi hoảng sợ tới độ mất trí. Suốt một năm trường, bà con họ hàng mang tôi tới đền thánh này qua đền thánh khác nhưng chỉ ở tại đây tôi mới được chữa lành.

Nghe việc đó, con hân hoan tinh thần và tán tụng Thiên Chúa, Đấng vô cùng khôn ngoan sắp xếp mọi sự cho cái tốt lành nhất.

Kể tới đây, tôi thưa với cha linh hướng:

- Con đã có nhiều nếm trải lớn lao khác, nhưng e phải mất hết ba ngày ba đêm mới kể hết được cho cha nghe. Vẫn còn thêm chuyện khác nữa con xin kể tiếp.

Vào một ngày hè quang đãng, con để ý bên đường có một nghĩa trang và một địa điểm mà người ta gọi là khu hành lễ, nghĩa là một nhà thờ với mấy ngôi nhà dành cho vị giáo sĩ trong xứ. Theo tiếng chuông ngân báo hiệu thánh lễ con rẽ đường đi về khu đó. Dân chúng sống quanh nghĩa trang cũng đang theo lối đó đi vào, và trước khi vô tới nhà thờ, một số người ngồi nán lại trên bãi cỏ. Thấy con lật đật đi vào, họ nói với con:

- Đừng gấp, chờ cho tới lúc bắt đầu thánh lễ thì anh còn vô số thì giờ. Ở đây, thánh lễ diễn ra rất lâu lắc: cha xứ của chúng tôi sức khoẻ kém và dâng lễ chậm chạp lắm.

Thật vậy, thánh lễ kéo dài rất lâu. Linh mục là một thanh niên nhưng quá xanh xao gầy ốm. Ông dâng lễ quả thật rất chậm nhưng với lòng sốt sắng sâu xa, và cuối buổi phụng vụ, ông giảng một bài đầy xúc động, giản dị và tuyệt vời về cách tăng tiến trong tình yêu thương Thiên Chúa. Lễ xong, linh mục mời con vô nhà ông, ở lại dùng bữa tối.

Trong bữa ăn con nói:

- Thưa cha, cha cử hành thánh lễ cách tôn kính và chậm rãi biết bao!

Ông trả lời:

- Vâng, nhưng bổn đạo của tôi không thích như vậy, họ than phiền. Tuy thế, không việc gì phải gấp gáp. Tôi thích chiêm nghiệm từng lời cầu nguyện và tận hưởng nó trước khi đọc lên thành tiếng. Không có nhận thức sâu sắc và cảm xúc nội tâm thì mỗi lời nói ra chẳng mang lại lợi ích gì cho cả tôi lẫn người khác. Mọi sự tập trung vào đời sống nội tâm và vào sự cầu nguyện chăm chú! Thế nhưng có quá ít người quan tâm đến đời sống nội tâm.

Cha xứ tiếp tục:

- Ấy bởi vì họ không cảm thấy niềm khao khát nuôi dưỡng và bảo vệ ánh sáng tâm linh trong lòng mình.

Con hỏi:

- Và điều đó có vẻ rất khó, thưa cha, làm cách nào ta đạt tới nó?

- Tôi xin trả lời là: Chẳng có gì khó cả. Để thành tựu sự giác ngộ tâm linh và trở thành người có đời sống nội tâm tập trung, bạn nên đọc một số bài này bài nọ trong Sách Thánh, và trong một khoảng thời gian hết sức lâu có thể được, chỉ tập trung vào đó toàn bộ sức mạnh chú ý và chiêm nghiệm của bạn. Lúc ấy, sự sáng của hiểu biết sẽ phô bày cho bạn. Về cầu nguyện, bạn phải xúc tiến theo cách thức giống y như thế. Nếu bạn muốn nó thuần khiết, chính đáng và thú vị, bạn phải chọn một số câu cầu nguyện ngắn, gồm ít tiếng thôi nhưng là những tiếng đầy sức mạnh, và thường xuyên lặp đi lặp lại trong một thời gian dài. Lúc đó bạn sẽ cảm thấy vui sướng trong việc cầu nguyện.

Lời giảng của vị linh mục ấy làm con vô cùng sung sướng. Nó giản dị biết mấy và thực tế biết mấy nhưng đồng thời sâu sắc ngần nào và khôn ngoan ngần nào. Bằng ý nghĩ mình, con cám tạ Thiên Chúa vì đã cho con được gặp một giáo sĩ chân chính trong nhà thờ của Ngài.

Khi xong bữa ăn, ông nói với con:

- Sau bữa ăn, trong khi tôi đọc Kinh Thánh và soạn bài giảng cho ngày mai thì anh cứ đi ngủ.

Như thế, con đi vô nhà bếp. Ở đó không có ai ngoài một bà lão ngồi thu mình trong góc nhà đang ho. Con ngồi dưới khung cửa sổ nhỏ, rút cuốn Philôkalia ra khỏi ba lô và bắt đầu âm thầm đọc cho mình nghe. Sau một lúc, con nghe bà lão ngồi trong góc đó đang thì thầm không ngừng lời cầu nguyện Đức Giêsu. Con thật quá đỗi mừng rỡ khi nghe tên cực thánh của Chúa được thốt lên không ngừng, và con nói với bà lão:

- Thưa mẹ, thật hết sức tốt lành khi mẹ luôn luôn nói lời cầu nguyện ấy. Đó là hành động có tính cách Kitô nhất và bổ ích nhất.

Bà đáp lại:

- Vâng. Câu "Xin Chúa thương xót con" là cái duy nhất tôi nương tựa trong tuổi già của mình.

- Mẹ có thói quen cầu nguyện như vậy bao lâu rồi, thưa mẹ?

- Từ lúc còn rất trẻ, và tôi không thể sống mà không có nó vì lời cầu nguyện Đức Giêsu cứu tôi khỏi bị quấy phá và chết chóc.

Con đút cuốn Philôkalia vô lại ba lô, lấy một chiếc ghế tới ngồi gần bà lão hơn, và bà bắt đầu câu chuyện của mình:

- Ngày trước, tôi là một thiếu nữ trẻ tuổi xinh đẹp. Cha mẹ tôi sắp đặt việc cưới hỏi cho tôi, và ngay trước hôn lễ, chú rễ đến gặp chúng tôi. Đang bước lên tầng cấp, còn khoảng chục bậc nữa thì thình lình anh ấy té ngửa, chết không kịp ngáp. Sự việc đó làm tôi khiếp đảm tới độ sau đó nhất định không chịu lấy ai hết. Tôi quyết định sống đời độc thân. Tuy nhiên tôi sợ khi mình còn quá trẻ mà phải đi đây đi đó, thì kẻ xấu có thể quấy phá mình. Nhưng một bà cụ hành hương quen biết dạy tôi rằng hãy cứ luôn luôn nói không ngừng lời cầu nguyện Đức Giêsu bất cứ nơi nào trên đường đi, và bà còn cam đoan với tôi rằng nếu tôi làm như vậy thì dù có đi đâu chăng nữa cũng không bao giờ xảy ra bất cứ loại xui rủi nào. Sự thật đã chứng minh cho tôi thấy vì tôi đi bộ tới tận những đền thánh xa xôi nhất mà không bao giờ xảy ra tai họa gì. Tiền đi đường thì đã có cha mẹ tôi cho. Khi về già tôi mất sức khoẻ, và lúc này cha xứ đây, do lòng ưu ái tự trái tim ngài, cho tôi nơi ăn chỗ ở.

Nghe chuyện ấy con hết sức vui mừng, không biết làm thế nào cám ơn Thiên Chúa về ngày hôm nay, ngày con được chỉ dạy quá nhiều về gương mẫu của cuộc sống tinh thần. Thế rồi, sau khi yêu cầu vị linh mục nhân từ và sốt sắng ấy ban phép lành, con lại ra đi trên đường của mình, chân bước hân hoan.

 

Print In trang | sendtofriend Email | back Trở về
  
Tin/Bài mới
Đức Mẹ Maria Hoa Hồng Mầu Nhiệm (5) (7/16/2013)
Đức Mẹ Maria Hoa Hồng Mầu Nhiệm (4) (7/16/2013)
Đức Mẹ Maria Hoa Hồng Mầu Nhiệm (3) (7/16/2013)
Đức Mẹ Maria Hoa Hồng Mầu Nhiệm (2) (7/16/2013)
Đức Mẹ Maria, Hoa Hồng Mầu Nhiệm (1) (7/16/2013)
Tin/Bài khác
Cn 1940: Đức Mẹ Maria Đạp Đầu Con Rắn (3) (7/5/2016)
Cn 1939: Đức Mẹ Maria Đạp Đầu Con Rắn (2) (7/5/2016)
Cn 1938: Đức Mẹ Maria Đạp Đầu Con Rắn (1) (7/4/2016)
Đức Mẹ Tự Do (7/12/2013)
Các Kết Quả Của Kinh Mân Côi An Ủi Và Cứu Các Linh Hồn Ra Khỏi Luyện Ngục (7/10/2013)
MeMaria.org -- Từ 15/4/1999 lần truy cập -- Kim Hà [Valid RSS]
Copyright © 2011 www.memaria.org. All Rights Reserved. Powered by VNVN System Inc.
Best view with IE 7.0, Fire Fox, resolution 1024x768