MeMaria.org

Radio Giờ Của Mẹ - Giờ Bình An - Giờ Tin Yêu - Giờ Hy Vọng
(714) 265-1512. Email: Kim Hà | webmaster

Mục Lục
Liên Lạc

Chương X: Cuộc Hành Trình Dang Dở

§ Kim Hà

Bác Sĩ Nguyễn Ngọc Kỳ trình bày tại Đại Hội Y Sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ, Washington DC ngày 13 tháng 7 năm 1996.

Lời Nói Đầu của Tòa Soạn Tuần Báo Sàigòn Nhỏ:

Hiện nay có thể nói trang sử tị nạn của người Việt Nam đi vào giai đoạn cuối. Chúng ta đã nghe, đã đọc không biết bao nhiêu bài báo viết về thảm nạn này của những đồng bào ruột thịt của chúng ta. Họ đang lọt vào một khe hở lịch sử không còn đường để tiến. Họ được ví như những con trâu chậm uống nước đục. Chúng ta tranh đấu nhưng không đoàn kết, không có tinh thần trách nhiệm của những người đi trước, đã làm mất đi tư cách pháp nhân của những người tị nạn Việt Nam trong mắt nhìn và lương tâm của thế giới.

Bài viết sau đây của Bác Sĩ Nguyễn Ngọc Kỳ, một người “trong cuộc” trong vấn đề cứu trợ đồng bào tị nạn Việt Nam hơn mười năm qua, tại Đại Hội Y Sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ, tổ chức tại Hoa Thịnh đốn, vào ngày 13 tháng 7 năm 1996 vừa qua. Chúng tôi xin được đăng tải nguyên văn để chúng ta cùng chia sẻ với ông nỗi đau chung về cuộc hành trình dang dở của những người tị nạn Việt Nam còn kẹt lại tại các trại tị nạn Á Châu. (Tháng 9 năm 1996)

Hành trình đi tìm tự do của dân tộc ta trong 2 thập niên qua vẫn là cuộc hành trình đầy máu và nước mắt. Cuộc vạn lý hải hành đầy thảm khốc, khởi đầu từ năm 1975, kéo dài 21 năm để rồi đang kết thúc trong đắng cay tủi hận.

Đối với những nhà làm chính sách của Cao Ủy Tị Nạn (CUTN) thì những khổ đau của kiếp tị nạn chẳng qua cũng chỉ là những con số, những bản báo cáo. Những câu chuyện tị nạn kể đi kể lại đã trở thành nhàm chán. Người ta đã quên đi hình ảnh những bộ mặt tuyệt vọng, những đôi mắt hãi hùng của những con người khốn khổ, sẵn sàng chấp nhận đem đổi mạng sống để tìm đến phần đất của thế giới Tự Do. Trải qua trăm đắng ngàn cay, kéo dài chuỗi ngày tháng vô vọng, đợi chờ lo âu tại trại tị nạn để rồi đang phải đối diện vjới một tương lai không lối thoát, với áp lực cưỡng bách hồi hương, bạo lực, lựu đạn cay, khói súng.

Chiếc vòng oan nghiệt CPA trong những ngày cuối càng siết chặt hơn, lạnh lùng hơn và tàn nhẫn hơn! Những lá thư kêu cứu của đồng bào tại các trại tị nạn, ngày càng khẩn thiết. Những trăn trở cuối đời thảm thươnghơn, tuyệt vọng hơn, đôi khi chỉ là những lời trối trăn vĩnh biệt.

Hai mươi mốt năm thảm trạng tị nạn được đán dấu bằng 3 cuộc khủng hoảng mở đầu cho 3 giai đoạn khác nhau của hành trình tị nạn, phản ảnh những chính sách của Quốc Tế đối với thuyền nhân Việt Nam.

HỘI NGHỊ GENEVA 1979.

Trong những năm đầu, thuyền nhân Việt Nam được đón nhận như những “ chiến sĩ của Tự Do”. Một HÔi nghị QUốc Tế đầu tiên về tị nạn đã nhóm họp tại Geneva ngày 20 tháng 7 năm 1979 để đối phó với làn sóngđi tản ồ ạt đưa đến cuộc khủng hoảng tị nạn năm 1979, Tây Phương nhất là Hoa KỲ sốt sắng tiếp nhân định cư thuyền nhân và mọi ngừoi rời bỏ chế độ CS đều được mặc nhiên công nhận là tị nạn chính trị. Sở dĩ có việc công nhận tập thể này có lẽ vì các nước tây phương cảm thấy có phần nào trách nhiệm trong cuộc chiến thảm khốc tại Viêt Nam. Vả lại trong thế giới lưỡng cực, Tây Phương cũng muốn chứng tỏ rằng chế độ Cộng Sản tồi tệ, thất nhân tâm.

Lòng Thương Mệt Mỏi.

Trong những năm về sau, lòng thương cảm đối với người Việt tị nạn đã mệt mỏi. Những ảnh hưởng thảm khốc của chiến tranh cũng phai nhạt đi và thế giới Tự Do đã nhìn những người tị nạn dưới con mắt thiếu thiện cảm hơn mà cho rằng mọi người tị nạn Việt Nam đều ra đi vì lý do kinh tế.

Các Quốc Gia Tây Phương đã hồ hởi đối với các chính sách “cởi mở” mà cho rằng thế gi71i CS không còn đàn áp, ngược đãi nữa.

HỘI NGHỊ GENEVA 1989

Vào những năm cuối thập niên 80, số người được nhận đi dịnh cư tại Hoa Kỳ, Canada, Úc…đã bị cắt giảm rất nhiều, gây nên tình trạng ứ đọng tị nạn tại các nước tạm dung đưa đến cuộc khủng hoảng tị nạn lần thứ hai.

Một lần nữa Hội Nghị QUốc Tế về tị nạn Đông Dương nhóm họp tại Geneva ngày 13, 14 tháng 6 năm 1989 với sự tham dự của 73 Quốc Gia để đáp ứng với cuộc khủng hoảng tị nạn lần này.

Hội Nghị đã thông qua Chương Trình Hành Động Toàn Diện(CPA) nhằm đưa ra thủ tục thanh lọc để các định tư cách tị nạn và khuyến khích chương trình tự nguyện Hồi hương. Cuộc Hội Nghị này đánh dấu một chuyển hướng mới của Quốc Tế đối với tị nạn Việt Nam.

CHƯƠNG TRÌNH TỰ NGUYỆN HỒI HƯƠNG.

Thuyền nhân đã phải kéo dài cuộc sống cả một thập niên trong trại cấm. Họ đã mất cả quê hương, bè bạn, gia đình ly tán để rồi đối diện với một tương lai không lối thoát, vớ cảm giác bị chối bỏ, không còn chỗ dung thân trong thế giới của loài người nữa.

Có những người đã sống quá lâu tại trại tạm dung. Hoàn cảnh đã buộc họ phải sống ỷ lại vào sự trợ giúp của Quốc Tế về cả mọi mặt. Họ đã mật đi tinh thần tự lập và đã mất hẳn những ràng buộc cùng những liên hệ với cộng đồng quê hương họ. Con cái của họ cũng chưa bao giờ đặt chân lên mảnh đất quê hương. Làm sao họ có thể t rở về để tá itạo cuộc sống có lợi ích cho sự phát triển của đất nước.

Nhưng khi trở về, họ lại phải đối diện với một quê hương điêu tàn. Một vùng đất mà hạ tầng cơ sở đã bị hoàn toàn thiêu hủy sau những ănm dài chiến tranh tàn phà cùng những di hạis au cuộc chiến: những bãi mìn, những mảnh bom, những đống tro tàn, những đống gạch vụn đổ nát. Họ trở về với hai bàn tay trắng, không nơi trú ẩn, trước những đe dọa của nghèo đói, của bệnh dịch. Đôi khi khủng bố, kỳ thị, ngược đãi vẫn còn đe dọa đới sống của họ và con cháu họ. Tương lai đầy bất trắc. Liệu họ có thể kéo dài chuỗi ng2y cơ cực bất ổn đó được bao lâu?Trong trường hợp này có thực sự là một cuộc hồi hương “trở về an toàn và có phẩm giá” hay chỉ là bị tống khứ trở về nơi mà họ đã liều mạng trốn chạy, để kéo dài cuộc sống đầy bất trắc…

HỘI NGHỊ GENEVA 1994.

Qua đầu thập niên 90, chiến tranh lạnh đã chấm dứt cùng với gần 50 năm cầu trúc của Thế Giới lưỡng cực. Saự sụp đổ của Cộng Sản Đông âu và sự tan vỡ của Liên Bang Sô Viết đã đưa đến những làn sóng đi tản ồ ạt nhất là khi bức màn sắt đã bị dẹp bỏ.

Tại Geneva, tháng 2 năm 1994, Hội Nghị của Ủy Ban Chỉ Đạo Kế Hoạch Hành Động Toàn Diện được triệu tập nhằm đối phó với cuộc khủng hoảng tị nạn lần thứ 3 này. HỘi Nghị đã đưa ra quyết định sẽ chấm dứt Chương Trình Hành Động Toàn Diện(CPA) vào cuối năm 1995.

Tại Hội Nghị, Đại Sứ HOa Kỳ, Warren Zimmerman đã tuyên bố:

”Chính Phủ Hoa Kỳ trên nguyên tắc không chống việc cưỡng bách hồi hương những người đã mất quyền tị nạn, nếu được thực hiện theo đúng luật lệ và thể thức quốc tế để nếu cần phụ giúp cho chương trình hồi hương tự nguyện.”

CUTN và các chính quyền sở tại đã tìm cách tống khứ những con người khốn khổ về nơi mà họ đã phải liều mạng trốn chạy, nhằm dứt điểm tị nạn Việt Nam.

Trong nỗ lực dứt điểm tị nạn Việt Nam, song song với thủ tục thanh lọc bất công, sai trái, đầy định kiến, CUTN cón áp dụng những biện pháp cắt giảm lương thực và nhu yếu phẩm, cắt giảm các chương trình y tế, gíao dục và an sinh xã hội nhằm ép buộc thuyền nhân phải tự nguyện hồi hương.

Các cuộc đàn áp thuyên nhân bằng võ lực của Cảnh Sát, Thủy Quân Lục Chiến, đã diễn ra khắp các trại tị nạn, gây thương tích cho biết bao thuyền nhân.

HỘI NGHỊ GENEVA 1995.

Ngày 16 tháng 3 năm 1995, CUTN đã triệu tập HỘi Nghị của Hội Đồng Chỉ Đạo với sự tham dự của khoảng 30 Quốc Gia để khẳng định cuối năm 1995 là mục tiêu để chấm dứt Chương Trình Hành Động Toàn Diện (CPA) tại các Quốc Gia Tạm Dung tuy thời hạn này có thể chậm hơn tại Hồng Kông, Hội Nghị tán thành áp dụng “Chương trình TRở Về Trong Trật Tự” (Orderly Repatriation Program). “Thuyền nhân sẽ phải lựa chọn hoặc tự nguyện trở về hoặc bị trục xuất theo chương trình trở về trong trật tự”. Đó là lời tuyên bố của ông Werner Blatter, Giám Đốc Á Châu Thái Bình Dương Sự Vụ của Cao Ủy Tị Nạn.

HỘI NGHỊ GENEVA 1996.

Cao Ủy Tị Nạn đã không thành công trong quyết định chấm dứt tị nạn Việt Nam vào cuối năm 1995 như đã dự định. Hội Nghị lần thứ 7 của Ủy Ban Chỉ Đạo (Steering Committee) Chương Trình Hành Động Toàn Diện được triệu tập tại Geneva vào đầu tháng 3, 1996 để định đoạt số phận của thuyền nhân Việt Nam còn đang tồn đọng tại các quốc gia Đông Nam Á và Hồng Kông. Hội Nghị quyết định:

1. Chương trình CPA sẽ chính thức chấm dứt vào cuối tháng 6, 1996. (Hồng Kông sẽ có chương trình riêng sau tháng 6.)

2. Trở về Viêt Nam là lựa chọn duy nhất cho những ai đã bị loại bỏ bởi tiến trình thanh lọc.

3. Không chấp nhận bất cứ sáng kiến hoặc hành động nào có thể làm trở ngại chương trình hồi hương.

NHỮNG NGÀY CUỐI CỦA CHƯƠNG TRÌNH CPA.

Nỗ lực chính yếu của CUTN và các quốc gia tạm dung là hoàn tất hồi hương thuyền nhân Việt Nam để chấm dứt chương trình CPA vào cuối tháng 6, 1996. Tại hầu hết các Quốc Gia Đông Nam Á, các biện pháp trấn áp và bạo lực đã được gia tăng để ép buộc thuyền nhân tự nguyện hồi hương. Đồng thời, cưỡng bức hồi hương tá hình dưới mỹ từ Trở Về Trong Trật tự(ORP) được áp dụng triệt để.

Những nỗ lực cuối cùng của Quốc Hội Hoa Kỳ, của Giáo Hội Công Giáo Phi Luật Tân để kết thúc chương trình tị nạn Việt Nam Trong Công Bình và Nhân Đạo cũng khó thoát khỏi chiếc vòng kiềm tỏa oan nghiệt CPA. Những tia sáng mới chợt lóe lên đã bị áp lực nặng nề từ Cao Ủy Tị Nạn và các quốc gia lân bang Đông Nam Á.

DỰ LUẬT HR 1561

Tại Hoa Kỳ, Lưỡng Viện Quốc Hội đã thông qua Đự Luật Ngân Sách Ngoại Viện HR 1561 (Foreign Aid Bill) ngày 28-3-96. Điều khoản 2104 của dự Luật này cho phép tiếp nhận định cư vào Hoa Kỳ những trường hợp hội đủ tiêu chuẩn luật lệ Hoa Kỳ (căn cứ theo Lautenberg Amendment và World Wide Refugee Standard) và ngăn cầm việc sử dụng ngân khoản tài trợ của Hoa Kỳ vào các chương trình nhằm thực hiện hay khuyến khích hồi hương. Thật ra tị nạn chỉ là một điều khoản nhỏ trong Dự Luật Ngân Sách Ngoại Viện. Tổng Thống Clinton đã phủ quyết, và dự luật đã chuyển lại Quốc Hội để tu chính. Theo một giới chức tại Quốc Hội, khó mà tìm được một sự thỏa hiệp giữa tòa Bạch Ốc và Quốc Hội với đa số Cộng Hòa, nhất là trong mùa bầu cử sắp tới. Quá muộn trong giai đoạn cuối của tị nạn.

CHƯƠNG TRÌNH R.O.V.R.

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã đưa ra chương trình R.O.V.R. “Cơ hội định cư cho người Việt hồi hương” (Resettlement opportunities for Vietnamese Retrunees). Vào cuối tháng 4-96 với mục đích giải tỏa các tị nạn và tái phỏng vấn tại Việt Nam một số thuyền nhân đã hồi hương thuộc thành phần được Hoa Kỳ đặc biệt quan tâm vì những liên hệ với cuộc chiến Việt Nam.

Hà Nội mới chấp nhận trên nguyên tắc. Những chi tiết kỹ thuật”, thể thức điều hành và tiến trình phỏng vấn thuyền nhân còn đang được bàn thảo.

Điểm tích cực của chương trình ROVR là một số thuyền nhân đã hồi hương sẽ có cơ hội được tái cứu xét để đưa đi định cư tại Hoa Kỳ nếu hội đủ điều kiện.( Lautenberg Amendment và World Wide Refugee Standard)

Điểm tiêu cực của giải pháp này khiến thuyền nhân còn đang ở tại trại ngần ngại là họ chỉ được chấp thuận tái cứu xét tại Việt Nam sau khi đã tự nguyện hồi hương.

Điểm phiêu lưu của giải pháp này là phải xin được giấy phép xuất cảnh (Exit permit) trước khi được phái đoàn Hoa Kỳ tái cứu xét. Những thủ tục này xem ra cũng khó khăn, phức tạp và tốn kém đối với những người mới hồi hương.

PHÚC Ở ĐÂY MÀ HỌA CŨNG Ở ĐÂY.

Đối với những người đã hồi hương thì đây là một cơ may cho những ai hội đủ điều kiện. (Nếu áp dụng đúng đắn và có sự hợp tác chân thành của Hà Nội.)

Về phương diện kỹ thuật, giải pháp ROVR là một “tuyệt chiêu!”: nhất cử lưỡng tiện. Giải tỏa được các trại tị nạn và cũng tái xét một số người có liên hệ tới cuộc chiến tại Việt Nam bên cạnh đồng minh Hoa Kỳ. Nhưng về phương diện đạo đức, giải pháp nhân đạo này dường như có vẻ thếiu nhân đạo. Cho họ một cơ hội được tái cứu xét nhưng lại bắt họ phải đăng ký trở về một nơi mà họ đã phải liều mạng trốn chạy. Họ đã trả giá cho lộ trình (Track I): hải tặc hãm hiếp, thanh lọc bất công, bị chôn vùi cuộc sống trong giam cầm gần cả một thập niên. Liệu họ còn có đủ tin tưởng và cam đảm để trở về VIệt Nam, lại bắt đầu cuộc hành trình phiêu lưu lần thứ 2?

Chương trình ROVR đã hết hạn đăng ký từ cuối tháng 6, 1996. Vả lại, thuyền nhân cũng tẩy chay mà cho rằng chương trình này là một thủ thuật chính trị nhằm dụ thuyền nhân hồi hương.

ĐIỀU TRA VỀ TỆ NẠN THAM NHŨNG TRONG TIẾN TRÌNH THANH LỌC.

Do yêu cầu của Dân Biểu Dornan, văn phòng Tổng Thanh Tra Tài Chánh Hoa Kỳ (US General Accounting Office hay GAO) đã đồng ý một cuộc điều tra về tệ nạn tham nhũng và sai trái trong tiến trình thanh lọc. Việc điều tra của văn phòng Tổng Thanh Tra Tài Chánh chỉ có mục đích thu thập dữ kiện, thẩm định và đưa ra những nhận định chứ không có thẩm quyền quyết định trên những hồ sơ thanh lọc sai trái.

Phá iđoàn GAO đã tới các trại tị nạn Đông Nam Ávà HỒng Kông vào cuối tháng 6 để phỏng vấn thuyền nhân. Tuy nhiên Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và các quốc gia tạm dung đã trì hoãn không cho nhân viên GAO vào trại để phỏng vấn.

Trong bản tường trình sơ khở ngày 9-7-96, phái đoàn GAO đã ghi nhận nhiều trường hợp đã bị loại do thanh lọc sai trái. Vấn đề bay giờ là thiết lập kế hoạch để vận động. Tuỳ theo áp lực của Quốc Hội, tính chất khả thi của luật lệ của mỗi quốc gia và sự kiềm chế của CPA, Những trường hợp còn ở tại trại tị nạn có thể được tái cứu xét. Đối với những thuyền nhân đã bị cưỡng bức hồi hương, những người có thể được đề nghị ưu tiên trong chương trình ODP hoặc chương trình R.O.V.R.

SAU CPA

Chương trình hành động toàn diện đ4 chấm dứt ngày 30-6-96 ngoại trừ Hồng Kông. Theo Thống kê của US State Department, tình đến cuối tháng 6-96, có 839,228 thuyền nhân và bộ nhân đã tới các trại tị nạn Đông Nam Á. Có 77,106 thuyền nhân đã được đi định cư tại các quốc gia đệ tam. Có 84, 804 thuyền nhân hồi hương.

Mã Lai đã đóng cửa trại vào ngày 25-6-96. Singapore trục xuất 99 thuyền nhân cuối cùng vào ngày 27-6-96 và tuyên bố đóng cửa trại.

Tổn số thuyền nhân còn tồn đọng tại các trại tị nạn Hồng Kông và Đông Nam Á là 25, 557. Trong đó Hồng Kông có 15, 870. Indonesia 3,459. Thái Lan 3,721. Phi Luật Tân 2,344 (khoảng 800 thuyền nhân đã trốn khỏi trại, khoảng 400 đã đăng ký tự nguyện hồi hương).

Đối với Cao Ủy Tị Nạn và các quốc gia tạm dung thì lựa chọn duy nhất của những thuyền nhân này là trở về Việt Nam.

Những gnười đã ghi danh tự nguyện hồi hương thì vẫn được Cao Ủy Tị Nạn cung cấp thực phẩm sau tháng 6. Nhưng những người không ghi danh tự nguyện hồi huơng thì số phận của họ chưa biết sẽ ra sao.

Sau CPA, áp lực cưỡng bức hồi hương vẫn còn là một đe đọa từng giờ từng phút. Số phận của thuyền nhân sẽ khác biệt tùy theo truyền thống văn hóa và hoàn cảnh chính rị kinh t ế của mỗi quốc gia tạm dung. Cao Ủy Tị Nạn vẫn khuyến khích và tài trợ các hương trìenh cưỡng bức hồi hương.

Đối với Hồng Kông, thuyền nhân sẽ tiếp tục bị đàn áp và áp lực cưỡng bức hồi hương càng gia tăng là gần đến thời điểm trao trả Hồng Kông cho Trung Cộng.

Thái Lan và Indonesia đang theo gót Mã Lai trục xuất thuyền nhân để đóng cửa trại trong những tuần tới.

GIẢI PHÁP LÂU DÀI “DURABLE SOLUTION” TẠI PHI LUẬT TÂN.

Sau nhiều cuộc thương thảo gay go tưởng như có thể bế tắc. Hội Đồng Giám Mục và Bộ Ngoại Giao đã đạt được một thỏa ước “Memorandum of Agreement” để đem lại một giải pháp lâu dài cho thuyền nhân Viêt Nam. Cả hai phía đã đạt đến một thỏa thuận chung: chữ local integration” được thay bằng chữ “durable solution” (giải pháp lâu dài).

Đây cũng là một kỹ thuật dùng để Phi Luật Tân(PLT) có thể tránh khỏi áp lực của các quốc gia lân bang chỉ trích PTL đã không tôn trọng các điều khoản sau đây:

1. Những thuyền nhân còn lại sẽ được phép kiếm việc đi làm và được theo đuổi giáo dục.

2. Những thuyền nhân này được quyền cư ngụ tại bất cứ nơi nào miễn là họ vẫn được sự bảo trợ(auspice) của Giáo Hội.

3. Danh Từ “durable solution” được hiểu là vô hạn định (indefinite) cho tới khi tìm một giải pháp khác. Nói khác đi cho tới khi được quy chế thường trú nhân tại PLT thì thuyền nhân có thể hoặc tự nguyện hồi hương hoặc d8i định cư tại bất cứ quốc gia nào nếu quốc gia đó chấp nhận họ.

Thuyền nhân sẽ được gọi là những người Việt Nam còn lại “Vietnamese Remnant” thay vì danh từ “non Refugee Vietnamese”. Việc hợp thức hóa có thể được cứu xét ngay sau khi vấn đề Thuyền nhân Việt Nam bớt sôi động nghĩa là sau khi PLT không còn bị áp lực hậu CPA của các quốc gia lân bang.

“Memorandum of Agreement” sẽ được chính thức ký vào buổi trưa ngày 16 tháng 7 tới, trước sự hiện diện của Tổng Thống Ramos. Ước mong PLT sẽ không bị một áp lực nào để phải thay đổi những điều khoản đã được thỏa thuận trong buổi họp ngày 8-7-96.

Các giới lãnh đạo Giáo HỘi Công giáo đã thuyết phục được Tỗng Thống Ramos “giang tay để đón tiếp người khách lạ, nhất là những người đã phải rời bỏ quê hương một cách bi thảm…”

Trại Palawan đã được chuyển giao cho Hội Đồng Gíam Mục quản trị từ 1-7-96, và Giáo Hội sẽ trợ giúp thuyền nhân để tiến dần tới một cộng đồng tự túc. Ánh Bình minh ló dạng trên bầu trời Palawan, PLT.

KẾT LUẬN

Trải qua hai thập niên, hành trình đi tìm tự do của dân tộc ta đang được kết thúc trong thảm họa đầy máu và nước mắt trong những gnày tháng cuối của chiếc vòng oan nghiệt CPA.

Khởi đầu, Tây Phương sốt sắng tiếp nhận người tị nạn, thuyền nhân Việt Nam được ân cần đón nhận. Những rồi 10 năm sau, năm 1989, lòng thuơng xót mỏi mệt, chiến tranh lạnh đã chấm dứt, những người tị nạn Việt Nam lại bị sua đuổi và coi như tội phạm.

Sau 7 năm của chương trình CPA, bay giờ đã đên lúc kết thúc.

Dứt điểm tị nạn Viết Nam nhằm chấm dứt hệ quả cuộc chiến mà Hoa Kỳ đã tham dự, cuộc chiến thảm khốc đã kéo dài 2 thập nên với mặc cảm tội lỗi và những hệ quả chính trị sau đó.

Trang sử tị nạn đang được gấp lại trong đắng cay, tức tưởi. Những thuyền nhân Việt Nam cuối cùng sau nhiều năm chờ đp75i vô vọng, ngay bị cưỡng bức trở về. Những hình ảnh thảm thương, những cái chết nghiệt ngã dường như cũng chẳng đủ để thức tỉnh lương tâm nhân loại mà chỉ như những que diêm lóe lên trong đêm tối giá băng.

Những người tị nạn thật sự không phải vì họ muốn rời bỏ quê hương làng xóm, nhưng vì họ đã bị bó buộc phải bỏ nước ra đi. Trải qua những ngày tháng lênh đênh trên biển cả, đói khát, giông tố hãi hùng, hải tặc hãm hiếp; nhưng họ vẫn sẵn sàng chấp nhận đem đổi mạng sống để đến được phần đất của thế giới tự do. Nhưng chính ở phần đất của thế giới tự do này, họ đang bị tước đoạt quyền sống căn bản của con người.

Độc đoán, dán nhãn hiệu “di tản kinh tế” và dùng bạo lực để trả những thuyền nhân về một xứ sở CS độc tài mà họ đã liều chết ra đi, không những là một việc làm thiếu nhân đạo mà còn vi phạm nhân quyền trầm trọng.

Thuyền nhân Việt Nam không những là nạn nhân của vi phạm nhân quyền ngay tại quê hương họ, mà cũng còn là nạn nhân của vi phạm nhân quyền ngay tại phần đất của thế giới Tự Do này.

Chúng tôi chân thành cảm ơn Cộng Đồng Thế Giới đã mở rộng vòng tay đón tiếp tị nạn Việt Nam trong hai thập niên qua.

Chúng tôi kêu gọi thế giới hãy nỗ lực một lần chót, một lần cuối cùng để kết thúc chương trình tị nạn Việt nam trong danh dự.

Nguyễn Ngọc Kỳ

Đọc nhiều nhất Bản in 24.04.2007. 23:00