MeMaria.org
Radio Giờ Của Mẹ - Giờ Bình An - Giờ Tin Yêu - Giờ Hy Vọng
(714) 265-1512. Email: Kim Hà | webmaster
Danh Sách Các Tu Hội Việt Nam Cần Giúp Đỡ
Get the Flash Player to see this player.
"Tặng Thánh Kinh và Chuỗi Mân Côi cho đồng bào ta"
- Giáo Hội đang chờ đợi những phép lạ trong ngày Lễ Hiện Xuống
- Mười tư tưởng đơn sơ về Nhân Bản và Đạo Đức mỗi tuần (31)
- CN898: Đất Nước Chia Đôi Làm Gia Đình Ly Tán
- CN897: Làm Sao Cứu Các Thai Nhi Khỏi Chết?
- M55: Những Bài Viết Sưu Tầm Về Mẹ
- Bài huấn dụ lễ Ngũ tuần 11-5-08
- Nhớ về Các Nữ Tu nhân Ngày Hiền Mẫu
- M54: Suối Tình Yêu (thơ)
- Nỗi Buồn Hai Lúa!
- Việc làm cản trở ơn Thánh Thần
Bà Marthe Robin: Đức Bác Ái Và Tình Yêu (2)
§ Kim Hà
... tiếp Chương Thứ Nhất
6. Nhiệm vụ tông đồ.
Tin tức về việc Marthe được hiệp thông với Chúa Giêsu Kitô được loan truyền rộng rãi quanh quận lỵ và khắp nơi. Dân làng và gia đình họ bắt đầu đến gặp cô Marthe. Cha xứ và gia đình cô phải tổ chức và sắp xếp cho các cuộc gặp gỡ này.
Dân chúng đến kể cho cô Marthe nghe về các vấn đề của họ, rồi họ xin cô cầu nguyện và lời khuyên giải. Họ kiên nhẫn đứng xếp hàng trong căn nhà bếp của gia đình cô, kể cả linh mục cũng như giáo dân. Cô Marthe đặc biệt thích thú khi tiếp xúc với các trẻ em. Các học sinh nhỏ thường đến thăm cô sau giờ học hay vào những ngày lễ nghỉ. Khi các em nói, cô thường lắng nghe các câu chuyện của chúng và cầu nguyện chuỗi Mân Côi với chúng. Cô dịu dàng khuyến khích và nói với các em về lòng trông cậy và tình yêu đối với Chúa. Cô cho rằng trẻ thơ rất gần gũi với Chúa Kitô, chúng là kho tàng của Chúa.Vì thế, chúng ta phải cho các em biết rằng chúng ta thương yêu các em.
Một trong những ơn đặc biệt của cô Marthe là đặt các lời kinh đẹp đẽ và đầy quyền năng. Cô biết rõ sức mạnh của lời cầu nguyện và khi nào thì Chúa nhậm lời những lời cầu nguyện của chúng ta. Có rất nhiều trẻ thơ được cứu thoát nhờ sự cầu bầu của người khác.
Cô Marthe bắt đầu nhận ra rằng Chúa Giêsu đã chọn cô để làm một công trình to lớn mà Ngài muốn ban cho thế giới.
Đó là vào đầu năm 1930, cô khởi sự bước đầu để xây dựng công trình ấy. Chúa tiết lộ cho cô rằng địa phương của cô cần một trường học Công giáo. Rồi cô khẩn xin vị linh mục chính xứ hãy làm mọi cách để mở một trường học như thế. Thoạt đầu, vị linh mục do dự, làm sao một ngôi làng sống với tinh thần thế tục mà dân làng lại muốn gởi con học trường của giáo xứ chứ?
Tuy nhiên, Marthe cứ nài nỉ mãi nên linh mục chính xứ phải làm theo. Ngài bèn tìm mua một tòa lâu đài bỏ hoang và sửa chữa lại. Thế là ngôi trường học được mở cửa vào tháng 10 năm 1934, với hai thầy giáo và 7 học sinh.
Dần dần, ngôi trường làng trở nên một trường học dành cho nữ sinh, với hàng trăm học sinh, từ 5 tuổi đến 18 tuổi. Rồi lại có một trường dành cho nam sinh ở làng bên cạnh thuộc vùng St. Bonnelo, và một đại học cộng đồng nông nghiệp ở gần đó. Từ 7 học sinh đầu tiên năm 1934, nay có 3 đại học cung cấp nền giáo dục cho cả ngàn sinh viên.
Ở trong trường, Marthe muốn có một tấm hình Đức Mẹ Maria. Sau khi đọc sách của Thánh Louis de Monfort, với tựa đề “Bí Mật của Mẹ Maria” (The Secret of Mary). Marthe thuộc và nhớ nằm lòng, và sau đó, cô được Đức Mẹ Maria hiện đến thăm viếng nhiều lần, và Mẹ nói chuyện với cô hàng ngày. Đức Mẹ Maria có tràn đầy ơn phúc, Mẹ của Thiên Chúa và là Nữ Vương Thiên Đàng. Thế là Marthe xin họa một bức tranh về Đức Mẹ Maria, Đấng Trung Gian mọi ơn phúc. Người họa sĩ vẽ tranh ấy ở vùng Lyons.
Linh mục Georges Finet là một linh mục ở Lyons. Ngài đem bức tranh về cho Marthe ở vùng Châteauneuf vào ngày 10 tháng 2 năm 1936. Cha nói chuyện với Marthe khoảng 3 tiếng. Đó là cuộc thăm viếng làm thay đổi cuộc đời cha, và cha sẽ cùng Marthe làm việc cho Chúa Giêsu Kitô.
Vị linh mục ấy sùng kính Mẹ Maria và thán phục công việc của Thánh Louis de Monfort. Khi lắng nghe Marthe nói về Đức Mẹ Maria, về Giáo Hội hiện đại và thế giới, về việc làm đổi mới lại Giáo Hội, thì ngài biết ngay đây là một linh hồn hiếm quý. Điều làm cho cha Finet ngạc nhiên là khi Marthe nói rằngThiên Chúa có một nhiệm vụ dành cho cha:
“Cha là người đến vùng Châteauneuf để thành lập một nhà Tình Thương Foyer.”
Ý niệm thành lập một trung tâm tâm linh (hay foyer) bùng nổ với ánh sáng, từ thiện và tình yêu. Đó là nơi mà các gíáo dân nam nữ có thể tham dự những buổi tĩnh tâm dài một tuần . Đây cũng là nơi mà các thành viên của nhà Foyer trở lại lối thực hành và giá trị của Giáo Hội vào những thế kỷ đầu tiên, sau khi Chúa Giêsu KiTô sinh ra và chịu chết. Điều này được Chúa tiết lộ với Marthe năm 1933.
Marthe kể lại việc Chúa Giêsu nói với cô về công tác huy hoàng mà Ngài muốn thực hiện ở đây để cho vinh quang của Chúa Cha, cho quyền thống trị của Ngài nơi toàn thể Giáo Hội, và cho sự canh tân của toàn thế giới. Chúa Giêsu đòi cô phải tham gia trong công tác này. Cô lo lắng không biết làm cách nào để làm, nhưng Chúa phán:
“Đừng sợ hãi, Ta sẽ làm mọi sự.”
Chúa Giêsu nói tiếp rằng Ngài sẽ gửi một vị linh mục đến bắt đầu công việc và đưa công tác này đến thành công. Ba năm sau, Chúa sai linh mục Finet.
7. Nhà Tình Thương Foyer.
Dưới sự điều khiển của một linh mục, những người nam nữ đã chịu phép Rửa tội sống chung trong một cộng đoàn, chia sẻ các tài sản về tài liệu, trí tuệ và tâm linh. Các thành viên của cộng đoàn liên kết với nhau và với linh mục, trong các công tác tông đồ và làm chứng nhân, qua đời sống của họ, lời cầu nguyện, và công việc. Họ đến với ánh sáng, lòng từ thiện và tình yêu của Chúa Giêsu Kitô. Họ có một ơn gọi làm việc bác ái.
Cộng đoàn này chia sẻ Phúc Âm, rao giảng Tin Mừng , đón chào các người nam và nữ, giúp đỡ họ cách cụ thể và thiêng liêng, không thiên vị, và không vặn hỏi.
Đối với những giáo dân và tu sĩ, trung tâm Foyer cống hiến các chương trình tĩnh tâm, chủ yếu là cho người lớn hay cho gia đình, cả các người trẻ cũng được tham dự. Mỗi kỳ tĩnh tâm có một chủ đề riêng biệt, nhằm tạo cơ hội cho mọi người lắng nghe và hiểu Lời Chúa, khi sống đơn sơ và thinh lặng.
Cuộc tĩnh tâm đầu tiên bắt đầu ngày 7 tháng 9 năm 1936, tại ngôi trường nữ ở Chateauneuf-de-Galaure. Cuộc tĩnh tâm thứ hai được tổ chức 3 tháng sau đó. Từ đấy, các nhà tình thương Foyers được xây dựng khắp thế giới, và tầm hoạt động của họ sinh sôi nẩy nở khắp nơi.
Hiện nay, nhà tình thương Foyers có hơn 100 người sống trong các Cộng đoàn và có đủ chỗ cho thêm 200 người khác đến tĩnh tâm, kể cả một chi nhánh dành cho người trẻ.
Hiện nay có 70 nhà tình thương Foyers trên thế giới: tại Âu Châu, ngay ở Pháp có 16 nhà, tại Phi Châu, Trung Mỹ, Nam Mỹ, Bắc Mỹ, vùng miền tây Ấn Độ, và Á Châu. Tuy nhiên, chưa có nhà tình thương nào ở Anh quốc, nhưng người ta đã biết đến cô Marthe và công việc của cô, các thông điệp và ý định ngay lành của cô. Hy vọng sẽ có một nhà tình thương ở Anh Quốc.
Mỗi năm, các người dân Anh và Ái Nhĩ Lan đến tham dự các cuộc tĩnh tâm ở Pháp Quốc. Có nhiều thành viên của Foyers mở trường học, đóng các vai trò quan trọng trong các công tác tôn giáo cho người trẻ, một mục vụ tông đồ mà Marthe cho là quan trọng.
Vào tháng 11 năm 1975, Đức Giáo Hoàng VI nói về nhà tình thương Foyers như sau:
“Các nhà tình thương Foyers cung cấp những cách thức chân thành và thiêng liêng, trong một không khí tĩnh lặng, bác ái và sùng kính Đức Mẹ Maria. Vì thế họ sẽ giúp hé mở các linh hồn cho sự trở lại, và làm cho đời sống họ sung mãn trong Thiên Chúa.”
8. Sự trung thành.
Kể từ ngày đầu tiên gặp gỡ Marthe vào năm 1936, linh mục Finet rất gần gũi với bà Marthe trong suốt 45 năm, và ngài cảm nhận được những giây phút khác thường và cao cả, cùng với sự đơn sơ của những biến cố xẩy ra hàng ngày. Đây là một quan hệ độc đáo trong lịch sử của Giáo Hội.
Cô Marthe bị mù năm 1940, cô dâng hiến thị giác của mình lên Chúa để cầu xin sự hòa bình và hoán cải cho nước Pháp, nhưng sự mù lòa không cản trở gì đến công tác của cô làm để vinh danh Chúa. Như Marthe nói, cô rút lấy tình yêu từ trong Thánh Tâm Chúa Giêsu KiTô và ban tình yêu đó cho những ai đến thăm viếng cô và hàng ngàn người viết thư cho cô.
Sứ mệnh của cô là làm cho các người nam nữ ở khắp nơi liên hệ với Chúa và với nhau. Cô siêng năng cầu nguyện và cầu cho sự canh tân của Giáo Hội. Dù là người nhỏ bé, bất động, và yếu nhược, cô Marthe tự gọi mình là dụng cụ của Thánh Ý Chúa, và qua cô, cha Finet và vô số người khác được kêu gọi để phục vụ trong các công tác tông đồ xuất sắc.
Gần về cuối đời, Marthe tiếp tục bị thử thách trầm trọng, và những năm cuối cùng được đánh dấu bằng những cơn đau đớn và thống khổ. Vào tháng 11 năm 1980, xương sống bà trở nên co xoắn lại và gây đau đớn vĩnh viễn, và một vài tuần sau đó, bà bị một cơn ho dai dẳng.
Marthe không còn có thể nói hay nhìn, và bà chịu muôn ngàn sự thống khổ và đau đớn. Người ta không cho khách đến thăm viếng bà nữa vì sức khỏe của bà quá tồi tệ. Đầu tháng 2 năm 1981, bà bảOcha Finet rằng thời giờ trên trần gian sắp hết. Bà xin gia đình bà tụ họp chung quanh bà. Vào ngày thứ Tư, khi các thân nhân bà ở quanh thì bà rước Mình Thánh Chúa. Ngày hôm sau, bà chịu đựng Cuộc Khổ Nạn Chúa Kitô, rồi bà tỉnh lại vào buổi tối. Vào chiều ngày thứ Sáu, ngày 6 tháng 2 năm 1981, bà Marthe chết.
Xác bà Marthe được mặc toàn màu trắng, như các trẻ nữ mới rước lễ lần đầu, xác bà được đặt trên giường mà bà đã nằm trong gần hết cuộc đời bà. Khuôn mặt bà sáng láng, hạnh phúc và bình an, nhưng nét mặt vẫn ẩn chứa nhiều sức mạnh và sự kiên cường. Lúc ấy các sự đau khổ và đau đớn dường như thua cuộc, và bà Marthe đã hoàn toàn sống với Chúa KiTô.
Vào ngày thứ Ba, mùng 10 tháng 2 năm 1981, xác bà được đặt trong một quan tài và đưa ra khỏi căn nhà trang trại mà bà đã sống suốt cuộc đời. Quan tài bà được đưa tới một nhà nguyện Foyer mới, nơi mà lúc sống, bà chưa hề được đến viếng thăm.
Hai ngày sau, tang lễ được tổ chức trong nhà Foyer này. Những người thương tiếc bà đến chào bà lần cuối. Họ đến bằng xe cộ, xe lửa, từ khắp nơi trên nước Pháp hay ở ngoại quốc. Các linh mục và giám mục cùng đồng tế Thánh lễ cầu hồn, và có khoảng chừng 6 ngàn người rước Mình Thánh Chúa. Sau tang lễ, quan tài được chuyển về nhà thờ St. Bonnet-de-Galaure, và Bà Marthe Robin được chôn cất trong thinh lặng, nơi mộ phần dành cho gia đình Robin.
Trong tang lễ, Đức Giám mục Valance khen ngợi về đời sống và các sự đau khổ của bà, cũng như nhiệt tâm và niềm vui của bà Marthe. Ngài nói:
“Tất cả chúng ta phải chu toàn nhiệm vụ của mình đối với Giáo Hội, bằng tài năng, các đức tính, và niềm khao khát tìm kiếm Chúa. Bà Marthe đã hoàn thành nhiệm vụ của bà một cách toàn hảo.”
Bà Marthe Robin có vẻ như là một màu nhiệm, một gương mẫu để noi theo. Bà mất tất cả khả năng thể lý và trở nên lệ thuộc người khác. Bà sống để mà chết nên bà có thể ở với Chúa mãi mãi. Với nhiều người, cuộc đời và định mệnh của bà thật là phi thường. Thật sự, bà là một người đơn sơ, một người con nhỏ bé, đáng yêu của Thiên Chúa và là một người con trung thành của Giáo Hội. Đời sống bà có nghĩa là đời sống Chúa Giêsu KiTô. Bà là một Ki Tô Hữu gương mẫu.
Bà Marthe Robin thường xuyên nói về một lễ Hiện xuống mới của tình yêu, khi Giáo Hội có thể được canh tân bằng các công tác tông đồ của các giáo dân, những người này sẽ giữ những vai trò quan trọng trong Giáo Hội. Khi được hỏi về điều này, bà trả lời rằng bà không thấy đó là điều khác thường. Bà nói:
“Tôi nhìn sự việc này như là một biến cố bình an và đến chầm chậm. Sự thay đổi sẽ đến từ từ. Nói về tương lai, các bạn biết người ta nói về các ý tưởng, nhưng tôi biết một điều chắc chắn là: Tương lai là Chúa Giêsu.”
Đọc nhiều nhất
Bản in 27.08.2006. 09:29

![[Valid RSS]](images/rss.png)