MeMaria.org
Radio Giờ Của Mẹ - Giờ Bình An - Giờ Tin Yêu - Giờ Hy Vọng
(714) 265-1512. Email: Kim Hà
banner
Google Search
memaria www  

Local Search
PayPal - The safer, easier way to pay online!
top menu :: sách online :: __sách về các thánh (more ...)
Thay đổi kích cỡ chữ đọc:
  
Chương X: Các Phép Lạ Sau Ngày Thánh Antôn Qua Đời (10 Và Lời Nguyện)
Thứ Bảy, Ngày 21 tháng 6-2014

CHƯƠNG X: CÁC PHÉP LẠ SAU NGÀY THÁNH ANTÔN QUA ĐỜI (10 và Lời Nguyện)

Để vinh danh Thiên Chúa toàn năng, tôi quyết định thêm vào tập này một số phép lạ sau ngày thánh Antôn qua đời, đã được ghi chép và công nhận. Tôi cố gắng sắp xếp lại dưới vài đề mục, để ai muốn tìm, có thể gặp thấy dễ dàng. Các phép lạ, sưu tập sau ngày người của Chúa về trời, được chia ra dưới đây bốn tiết mục.
 
Thứ nhất: Nói về những người được chữa lành các bệnh hoạn tật nguyền khác nhau.

Thứ hai: Về các người mù, điếc và câm được chữa lành.

Thứ ba: Các vụ đắm tàu và các người chết đuối khác được cứu.

Thứ tư: Những người khinh thị thánh nhân.

I. NHỮNG NGƯỜI ĐÃ ĐƯỢC CHỮA LÀNH CÁC BỆNH HOẠN TẬT NGUYỀN.

Sau ngày người của Chúa qua đời đã xảy ra nhiều phép lạ. Tôi xin lược thuật trong trang này. Tôi nhắc qua các phép lạ đã được công nhận trước Đức Giáo Hoàng hiện diện, trong số này có 19 người què đi được, 5 người tê liệt đứng dậy được, 5 người gù khỏi dị dạng, 2 người kinh phong hết ngã lăn sùi bọt mép, 2 người sốt rét được lành và 2 người chết sống lại.
 
Các phép lạ xảy ra thường xuyên, nên Anh em ở Pađôva xem thường không ghi chép nữa. Nhưng năm 1293 Anh Ray-mond de Saint- Rômain, trước là giáo sư ở thành phố này, sau được cử chức Tỉnh Phục Vụ Tỉnh Dòng Aquitaine, đã sưu tập một số và Anh đã xin được long trọng công nhận trước sự hiện diện của Đức Giám Mục, có những nhân vật đáng tin làm chứng. Trong số các phép lạ này, có một vài phép lạ tôi thấy phải kể lại, vì đã được công nhận và xác thực.
 
Có một Anh em, thuộc tỉnh dòng Romagna, tên là Cambius, bị bệnh sa ruột nặng đến độ như mang vào bụng cả một cái băng bằng sắt, y khoa không giữ được ruột anh khỏi sa xuống lê thê cực khổ. Anh định đến Bologna, tìm danh y, hy vọng y khoa giúp anh đỡ được phần nào. Nhân đi qua Pađôva vào dịp gần ngày lễ thánh Antôn, anh lưu lại ít hôm theo lời năn nỉ của một anh em, tên là Phanxicô. Bệnh hành anh đau đớn nhiều. Vài hôm trước ngày lễ, anh đi tu viện Vienne với một tu sĩ. Tu sĩ này ngã bệnh, anh chẳng dọn được giường nằm và chẳng giúp đỡ được gì hết. Anh em trong tu viện ngạc nhiên, thấy anh lơ là với bạn đồng hành, anh giở vạt áo lên, cho thấy cả một trìu ruột sa ra ngoài bụng. Đó là lý do để đừng trách anh.
 
Ngày lễ thánh Antôn, anh trở lại tu viện Pađôva. Anh thấy một đám đông bệnh nhân đang chen chúc nhau nơi mộ thánh nhân và được chữa lành như lòng mong ước. Anh giục lòng sùng kính và cũng hy vọng chắc chắn được chữa lành. Nhưng bị đám đông cản trở không thể chen vào giữa hàng cột gần ngôi mộ, anh chỉ đưa được tay mặt với tới, vuốt mạnh vào ngôi mộ, rồi tin tưởng anh đưa bàn tay đã chạm vào mộ thánh áp vào bụng anh, chỗ ruột sa và nâng ruột của nó trước trên bụng.
 
Lúc nâng ruột lên, anh đặt hết tin tưởng vào sự cứu giúp của thánh Antôn, anh nhấn mạnh thêm vào chỗ miệng ruột sa. Lạ thay, vì nhấn mạnh, nên miệng ruột sít lại và cứng lại. đó là lời chính anh Canbius đã dùng để nói trước nhiều người. Không có chỗ nào trên da cứng như cái sẹo lạ, chỗ miệng trước kia khi ruột sa ra ngoài. Anh nhảy múa và nói: "Vừa rồi tôi đâu có được thế này, chính nhờ thánh Antôn cứu giúp, bây giờ tôi nhảy được vũ được".
 
Để tỏ lòng biết ơn và để phục vụ thánh nhân đắc lực hơn anh xin chuyển sang tỉnh dòng này [61] .
 
Cũng năm ấy anh Phêrô ghi lại phép lạ sau đây :

Ở giáo phận Forli, có một bà, tên là Beatrice, đã từ 10 năm, mắc chứng bệnh nguy hiểm dễ sợ: Một cái bướu lớn bằng nắm tay, có lúc lớn hơn, bắt rễ sâu trong đầu, không thuốc gì làm tiêu tan được. Bà đã được nhiều danh y chữa trị nhưng vô hiệu. Tiếng đồn phép lạ thánh Antôn loan khắp nước Ý vừa rồi đã đến tai bà. Lòng bà dâng lên một niềm hy vọng sẽ được sự cứu giúp của thánh nhân. Bà thêm lòng kính mến thánh nhân. Bà khấn, nếu thánh nhân chữa lành bà xin dâng một cái vòng bạc bao quanh mộ người.
 
Đêm sau, lúc bà ngủ thánh Antôn hiện ra với bà trong giấc mơ. Bà thấy người dùng dao cắt tư cái bướu ra và chữa lành hẳn. Đã không đau đớn, bà còn cảm thấy trong người nhẹ nhàng thoại mái. Cũng trong giấc mơ bà đem chuyện nói cho mọi người biết. Sau đó thị kiến biến tan, nhưng quyền năng và hiệu quả vẫn tồn tại. Vài ngày sau, cái bướu ghê tởm kia bỗng nứt tư như thị kiến đã cho thấy, máu mủ chảy ra đầm đìa, không còn hình cái bướu nửa và bà lành hẳn. Bà kể lại cho mọi người biết việc lạ thánh Antôn đã làm. Bà đến Pađôva và cho đánh một cái vòng bạc bao quanh mộ thánh nhân.

II. NGƯỜI MÙ, NGƯỜI ĐIẾC VÀ NGƯỜI CÂM ĐƯỢC CHỮA LÀNH.

Trong số các phép lạ được xác nhận trước Đức Giáo Hoàng có 6 người mù được sáng mắt, 3 người điếc được nghe và 3 người câm lưỡi được mềm ra.Trong số các phép lạ do anh Phêrô nói trên đã ghi, hồi anh dữ chức giảng viên ở Padova, người ta cũng thấycó một người điếc được nghe, người câm nói được.
 
Một anh em tên là Bernadinô, người ở Parmô, bị câm đã hai tháng. Tật câm làm giảm sức khoẻ của anh. Anh không còn sức thổi tắt một ngọn đèn trước miệng. Các lương y tài danh nhất ở miền Lombardia không chữa anh bớt được phần nào.Các lương y đã nung sắt đỏ,đốt ở cổ anh 9 lần, đốt trên đầu một lần, lối chữa trị này không có hiệu quả, không có triệu chứng bớt, trái lại càng chữa, bệnh càng tăng, có lúc anh như ngạt thở. Anh nhớ lại các phép lạ của thánh Antôn, vị hiển thánh của Đức Kitô. Ngày lễ người cũng đã gần. Vì không nói được, nên anh viết một lá thư gửi anh Tỉnh Phục Vụ Tỉnh Dòng Thánh Antôn, xin phép đến Padova. Bệnh câm của anh ai cũng biết, nhưng Anh Tỉnh Phục Vụ vẫn ngại ngùng, sau đó, tin tưởng vào quyền năng thánh Antôn, anh đồng ý cho đi.
 
Vừa đến Padova, anh Bernadinô đến cầu nguyện ngay tại mộ thánh nhân. Tuy chưa nói được, nhưng anh vẫn bắt đầu ho, bắt đầu khạc. Anh tiếp tục tha thiết này xin, chung lời với một số anh em và đông đảo dân chúng kéo đến nhân ngày lễ và vì đã nghe tin đồn các phép lạ. Rồi bỗng anh ho ra đờm dãi dơ bẩn và nói được hoàn toàn, sức khoẻ cũng được phục hồi. Anh cao hứng, cất hát lớn tiếng điệp ca "kính chào Nữ Vương". Nghe báo có phép lạ, Anh Tỉnh Phục Vụ và Anh Giảng Viên chạy tới, đồng thanh với anh em hát tiếp điệp ca, lòng thêm sốt mến và vui mừng vì phép lạ đã diễn ra trước mắt anh em. Anh Bernadinô hát nữa; anh lành hẳn và vui mừng.
 
Cũng năm ấy, cũng anh Phêrô ấy, lúc còn là giảng viên ở Padova, đã ghi lại phép lạ sau đây.
 
Một tu sĩ, 25 tuổi giúp việc các nữ đan sĩ ở Padova. Trong thành phố và các vùng lân cận ai cũng biết anh, anh câm và điếc từ mới sinh. Anh không nói được, tật này dễ nhận thấy, vì lưỡi anh rất ngắn, chỉ lú lên khỏi cổ họng, lưỡi anh chỉ là một miếmg thịt nhỏ, xoắn lại như cái đanh ốc, nhìn vào thấy khô cứng và nhăn nheo, đúng như lời nhiều bà phước rất đáng tin đã thấy và đã tả lại chính xác cho Đức Giám Mục Padova nghe anh điếc, tật này cũng rõ ràng, nếu đem chuông lớn lắc bên tai anh, tuy anh thấy nhưng anh không nghe, không một cử động nào của đầu anh, không một dấu hiệu nào tỏ ra anh đã nghe, đúng như lời các anh em của anh đã đặt tay trên Phúc âm thánh, thề làm chứng trước Đức giám mục Padova. Đã hai lần, anh thấy thị kiến khuyến khích anh chạy đến thánh Antôn xin cứu chữa, nhưng chất phác đơn sơ, anh chẳng hiểu gì. Anh rảo tìm thánh nhân trong nhà và ở các quảng trường thành phố. Sau một thị kiến thứ ba, giống như hai thị kiến trước, anh tìm đến nhà thờ thánh Antôn và định ở đó suốt đêm cầu nguyện.
 
Để mọi người biết là đã có phép lạ, anh nói một thứ tiếng mới, có thể hiểu được, nhưng không giống như thứ ngôn ngữ nào anh biết [62].
 
Thực ra, anh chỉ biết được một vài thứ riêng do Chúa soi sáng nói ra, anh chỉ biết một vài thứ tiếng do Chúa soi sáng ra người ta hiểu. Những người đã từng biết anh câm và điếc, nay anh thấy được, ai cũng kinh ngạc. Anh nói ra những lời người ta chưa từng dạy anh. Các nữ tu, trước được anh giúp việc, thấy vậy lại càng ngợi khen thánh Antôn. Các bà thường nói: "Nếu thánh Antôn đã làm cho người anh em câm điếc của chúng ta nói được, nghe được thì quyền năng của người phải là nhiều và kỳ diệu..." Phép lạ này làm cho nhiều người, đàn ông, đàn bà, kéo đến thêm. Họ đề xuất với anh, trước gọi là Phêrô, nay được chữa lành, nên đổi tên là Antôn.
 
Sau đây là một phép lạ khác, tôi không thể bỏ qua, vì tôi đã nghe anh Piere de Pomerada kể. Anh này biết chắc, do anh đã nghe vị giảng viên tại chức ở Padova kể. Anh giảng viên này khẳng định bản thân là nhân chứng mắt thấy tai nghe.
 
Quanh vùng Padova, có một người muốn biết các điều bí ẩn qua sự giúp đỡ của ma quỉ. Một đêm kia, ông đến tham gia một nhóm quỉ thuật. Có một giáo luật làm thầy pháp, biết gọi ma quỉ lên. Ông vừa vào và thầy pháp vừa bắt đầu đọc phù chú thì ma quỉ xuất hiện, gào thét kinh hồn. Ông sợ khiếp đảm. Ma quỉ hỏi gì nói nấy. Đã thế nó còn hung ác xong vào ông, giựt lưỡi ông khỏi cổ họng và móc mắt khỏi đầu ông. Giữa cảnh khủng khiếp ấy đã phải có một người lôi ông thoát tay ma quỉ. Khi ông mở miệng ra, người ta không còn thấy vết tích gì của cái lưỡi nữa. Nhìn vào chổ trước kia là con mắt, bây giờ là hai cái lỗ sâu hoắm. Một thời gian ông cơ cực, kéo lê cuộc đời cơ cực, trong cảnh cơ cực. Ông rất buồn khổ, vì không thể xưng tội và cũng vô phương tìm thuốc chữa lành. Ông sực nhớ đến các phép lạ Thiên Chúa toàn năng đã quen làm nhờ lời bàu cử của thánh Antôn, tôi tớ Người.
 
Ông khẩn khoản thiết tha xin thánh Antôn cứu giúp. Ông nhờ người dắt tới nhà thờ thánh nhân. Ông ở lại đó nhiều ngày nhiều đêm, cầu nguyện không ngừng. Bỗng một ngày kia, giờ dâng lễ, lúc anh em sốt sắng hát: "Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến" và vị chủ tế dâng cao Thánh Thể Chúa, đôi mắt ông được trở lại. Ông vui mừng, vội vã ra dấu cho những người dự lễ biết ông đã thấy được rõ ràng. Thấy phép lạ này, mọi người xúm quanh ông, dâng lời khẩn nài Chúa, bởi công nghiệp và lời cầu bàu của thánh Antôn, Chúa đã cho ông thấy được thì xin cũng cho ông được nói, để tuyên dương phép lạ thánh nhân trước dân chúng. Lúc anh em hát: "Lạy Chiên Thiên Chúa" và hát xong "Xin ban bằng an cho chúng con", Đấng đã mở mắt người mù và cho người câm nói được, đã cho lại ông cái lưỡi và cho ông nói được. Ông mở ngay miệng và nói "Chúc tụng Chúa, Thiên Chúa Isael, Chúa đã ban cho tôi đôi mắt được thấy, một lần nữa Chúa lại ban cho tôi cái lưỡi, nói được."
 
III. CỨU NẠN TÀU BỊ BÃO VÀ CỨU NGƯỜI SẮP CHẾT ĐUỐI.

Trong số phép lạ đã được long trọng công nhận trước sự hiện diện của Đức Giáo Hoàng, có nhiều phép lạ liên quan đến những người lâm nguy chết đuối.
 
Một bà kia bị rơi xuống nước, bà cầu nguyện cầu cứu thánh Antôn. Bà được vớt lên, người và áo vẫn khô. Trái lại những người nhảy xuống nước cứu bà đều bị ướt đẫm.
 
Có những người vượt biển, gặp bão lớn, thất vọng. Họ xưng tội và phó thác vào thánh Antôn. Họ đã được một ánh sáng le lói dẫn đường, đưa vào bờ bến một cách lạ lùng. Ánh sáng ấy tượng trưng thánh Antôn, không thể hồ nghi, vì suốt đời người đã sáng chói như một ánh sáng lạ. Phép lạ này đã làm cho người hát ca mừng thánh nhân: "Ngài đã là dấu hiệu cứu thoát thuỷ thủ bị bão tố, cơ hồ đắm tàu. Với một tia sáng người đã chỉ đường cho họ."
 
Năm đã nói trên, cũng anh Phêrô, hồi giữ chức giảng viên tại Padova, đã ghi lại một phép lạ cùng loại.
 
Một em bé, 20 tháng, tên là Tomasinô, nhà cha mẹ em ở gần nhà thờ thánh Antôn. Mẹ em vô ý để em chơi gần lu nước đầy. Em vục nước chơi như các em bé thường chơi với nước, và có lẻ em thấy bóng em dưới đáy lu, nên muốn cúi xuống bắt, do đó em bị té váo lu, đầu xuống trước, chân ló lên trên. Bởi còn quá bé, em không xoay xở và ngoi lên được, nên chẳng mấy chốc bị chết ngột. Một lát sau, công việc đã xong, mẹ em trở lại, thấy hai chân con ló trên miệng lu. Bà kêu thét lên, chạy lại, lôi con ra khỏi lu. Nhưng bà thấy con đã lạnh cứng. Bà gào khóc. Làng giềng đều nghe tiếng.
 
Nhiều người chạy đến, trong số có anh em Hèn Mọn và các người thợ đang chỉnh trang trong nhà thờ thánh Antôn. Khi thấy em bé đã chết rồi, mọi người ra về, buồn bã và cảm thương bà mẹ. Phần bà, đau lòng, nhưng cũng nhớ lại các phép lạ của thánh Antôn, bà ăn nỉ cho con bà sống lại. Bà khấn, nếu người nhận lời, bà sẽ phân phát cho người nghèo một số lúa mì cân nặng bằng con bà. Từ chập tối tới nửa đêm, bà luôn đứng trước tử thi con bà, khẩn cầu thánh nhân, khấn đi khấn lại. Và phép lạ đã xảy ra "con bà sống lại, mạnh khoẻ."
 
Tôi còn nghe anh Piere Raymond kể và quả quyết với tôi, có bà kia, nhờ lời cầu bàu của thánh Antôn, đã thoát khỏi cơ nguy thất vọng và chết đuối.
 
Ở Bồ Đào Nha, có bà kia, thường bị ma quỉ quẫy nhiễu. Một hôm, chồng bà giận dữ, mắng vào mặt bà rằng bà bị quỉ ám. Không thể chịu đựng một sự nhục nhã như thế, bà bỏ nhà ra đi, định nhảy xuống sông tự tử, đi ngang trước nhà thờ người, bà bước vào cầu nguyện với Chúa trước lúc chết. Đang cầu nguyện, bà bỗng ngủ thiếp đi, và thánh Antôn hiện ra, bảo: "Bà đứng dậy, cầm lấy mảnh giấy này và giữ kỹ, mảnh giấy sẽ chữa bà khỏi ma quỉ quấy nhiễu. "Bà vâng theo lời người, và lạ thay, lúc thức dậy bà thấy trong tay có mảnh giấy, ghi mấy chữ: "Và con sư tử chi tộc Giuđa dòng họ Đavid, đã chiến thắng, nên có thể mở quyển sách và bẻ gãy các dấu ấn."
 
Bà biết rõ đã không mang một mảnh giấy nào tới đây, nay thấy trong tay mảnh giấy Antôn trao cho, bà tin tưởng vào lời hứa và trở về nhà. Bao lâu bà còn giữ mảnh giấy ấy, ma quỉ để bà bình an. Chồng bà thấy vậy, hỏi duyên cớ sao bà được khỏi ma quỉ quấy nhiễu... Khi bà đã nói cho chồng biết, ông chồng muốn tuyên dương cho mọi người biết phép lạ. Ông cũng thuật lại cho vua nước Bồ Đào Nha nghe. Vua đòi xem mảnh giấy và sau khi ông đã đưa cho vua, vua không muốn trả lại cho ông nữa. Ngay đó ma quỉ lại quấy nhiễu bà vợ. Thương vợ, nhưng không có cách gì giúp được ông đem việc bàn với các Anh Em Hèn Mọn. Anh em và triều vua, xin một bản sao. Bản sao cũng có hiểu năng như bản chính và bà mãi mãi được khỏi ma quỉ quấy nhiễu [63].
 
IV. NHỮNG NGƯỜI KHINH THỊ THÁNH NHÂN

Một hiệp sĩ lác giáo từ hồi còn nhỏ, một hôm đang ngồi bàn ăn tiệc, nghe kể chuyện các phép lạ thánh Antôn, ông chế nhạo. Nhân tay cầm sẵn cái ly, ông ném từ trên cao xuống đất và nói lớn: "Nếu ông Antôn giữ cái ly khỏi vỡ, thì tôi tin ông là thánh." Tuy rơi xuống giữa nền đá, cái ly do phép lạ đã không vỡ. Thấy thế, người quân nhân này từ bỏ lầm lạc và tin vào Đức Kitô. Khi còn ở trần gian, thánh Antôn đã làm cho cái ly vỡ lại lành, nào có gì lạ, khi đã hưởng vinh quang trên trời, người cũng lại giữ được cái ly khác khỏi vỡ tan tành. Bởi vậy, dân chúng đã ca hát tuyên dương người với lời lẽ của một thánh thi: "Một phép lạ đã đưa một người lạc giáo trở về ánh sáng đức tin, nhờ một cái ly mỏng dòn từ trên cao ném xuống đất đã không vỡ tan tành [64].
 
Một giáo sĩ đã đem việc điều tra các phép lạ ra làm trò cười. Nhân lâm bệnh nặng, ông khẩn xin ông thánh Antôn cứu giúp và đuợc lành. Từ đó ông nhiệt thành biện hộ cho sự thánh thiện của người, sự thánh thiện chính ông đã cảm nghiệm. Bởi đó, trong thánh thi nói trên, dân chúng đã ca hát ngợi khen thánh nhân:
 
"Một giáo sĩ đem quyền năng hay làm phép lạ của thánh nhân ra làm trò cười, lúc lâm bệnh nặng, ông đã khấn và được lành.
 
Ông đã công khai tuyên dương vinh quang của người."[65]

Các phép lạ diễn ra nơi mộ người của Chúa nhiều lần và huyền diệu đã chứng minh rõ ràng hơn ánh sáng giữa ban ngày rằng Đấng ở dưới đất đã được tôn vinh qua bao nhiêu sự kiện lạ lùng, lúc lên trời cũng được hiển vinh cao sang tuyệt độ lạ lùng [66]
 
Lạy thánh Antôn, cha rấy thánh thiện, xin đoái nhận việc soạn sách khiêm tốn của người anh em cha đây. Trước nhan Chúa, là Cha muôn ngàn ánh sáng, xin cha làm trạng sư biện hộ cho anh em đang lê bước giữa cảnh lưu đày khổ cực này. Cùng với thánh Phanxicô, là cha các người nghèo, xin cầu cho chúng con, nhờ việc giữ lời khấn, chúng con cũng được giữ phần địa vị vinh quang của người và của cha. Nhờ lời cầu bàu của cả hai vị, chúng con mong được ơn ban cho Đức kitô, là cha các người nghèo, là Vua đầy lòng thương xót, là Đấng cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần hằng sống và hằng trị muôn đời. Amen.
 
PHỤ LỤC CỦA NGƯỜI CHUYỂN NGỮ

THÁNH ANTÔN MẤT QUYỂN THÁNH VỊNH

Hồi thánh Antôn ở Montpellier, một tập sinh ăn cắp của người quyển thánh vịnh, rồi ban đêm bỏ dòng trốn đi. Thấy mất sách, thánh nhân liền cầu nguyện. Khi người tập sinh sắp qua một cái cầu, bỗng có thằng quỉ hiện ra, tay cầm cái rìu, đón đường. Thằng quỉ bảo người tập sinh muốn sống, phải trở về nhà dòng, mang quyển thánh vịnh trả lại. Lúc đầu người tập sinh không muốn nghe theo, nhưng sau thấy hình thù thằng quỉ khủng khiếp dễ sợ, anh quyay trở lại, xưng tội với thánh nhân. Anh vừa khóc vừa xin thánh nhân cho anh tiếp tục tu trong dòng.
 
(Truyện này được chép trong Sách Các Phép Lạ. Có người nghĩ: Đây là nguyên nhân khởi đầu lòng tin tưởng của dân chúng, khi mất vật gì, liền chạy đến khấn xin thánh Antôn tìm lại cho.)
 
CHÚA HÀI ĐỒNG HIỆN RA VỚI THÁNH ANTÔN

Một hôm thánh Antôn đến một thành phố kia, có nhà quí tộc mời người đến tá túc và dọn cho người một phòng riêng yên tĩnh trong lâu đài ông, để thánh nhân có thể chuyên tâm đọc sách và suy niệm. Lúc thánh nhân cầu nguyện trong phòng, bên ngoài nhà quí tộc đi bách bộ, bước chân nhẹ nhàng. Ông rảo khắp lâu đài, lúc đến gần phòng thánh nhân, ghé mắt nhìn qua cửa sổ, ông thấy một em bé mũm mĩm trên tay thánh nhân. Thánh nhân âu yếm vuốt ve em bé, hôn em bé. Thánh nhân ngây ngất chiêm ngắm vẻ xinh đẹp của em bé. Ông không hiểu em từ đâu đến. Em bé linh thiêng đây chính là Chúa Hài đồng bảo thánh Antôn biết chủ nhân đã trong thấy người. Sau khi Chúa Hài Đồng biến đi, thánh Antôn mời chủ nhân vào phòng, cấm ông không được nói ra những gì ông đã thấy, bao lâu người còn sống. Sau khi thánh nhân qua đời, người nhân chứng được phước thấy phép lạ này đã vừa khóc vừa công khai kể lại. Ông đã đưa tay chạm vào hài cốt thánh để minh chứng sự thật lời ông nói.
 
(Truyện này được chép trong Sách Các Phép Lạ. Ngày nay chúng ta thấy các bức hoạ thánh Antôn, các tượng thánh Antôn trong nhiều nhà thờ đều diễn tả cảnh Chúa Hài Đồng hiện ra với thánh nhân, như trong truyện trên đây.)

KINH CẦU ÔNG THÁNH ANTÔN

Sách lịch sử dòng thánh Phanxicô kể rằng: Kinh cầu này do dòng thánh Phanxicô đặt ra và ghi nhận đây là kinh rất hiệu nghiệm: khi lấy lòng sốt sắng mà đọc kinh này, thì kẻ có tội được ăn năn trở lại, kẻ lành được vững vàng đi đàng nhân đức cho đến cùng, người âu lo được yên ủi, người đau được lành đã, mất mùa, đói khát chiến tranh loạn lạc, động đất, sấm sét bão táp.
 
Xin Chúa thương xót chúng con.

Xin Chúa thương xót chúng con.

Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.

Xin Chúa Kitô thương xót chúng con

Xin Chúa Kitô nghe cho chúng con.

Chúa Kitô nhậm lời chúng con.

Đức Chúa Cha ngự trên trời là Đức Chúa trời thật.

Thương xót chúng con.

Đức Chúa Con chuộc tội cứu thế là ĐCT thật.

Thương xót chúng con.

Đức Chúa Thánh Thần là ĐCT thật.

Thương xót chúng con.

Ba Ngôi cũng là một ĐCT. ( Thương xót chúng con).

Rất Thánh Đức bà Maria chẳng hề mắc tội Tổ Tông. (Cầu cho chúng con).

Ông thánh Antôn. Cầu cho chúng con.( Câu nào cũng thưa như vậy)

Ông thánh Antôn làm nổi danh dòng Phanxicô.

Ông thánh Antôn là hòm bia Thiên Chúa để truyền.

Ông thánh Antôn là đền thờ Đấng khôn ngoan cùng ngự.

Ông thánh Antôn chê bỏ những sự vui giả thế gian.

Ông thánh Antôn chống trả tính xác thịt thế gian cho lọn.

Ông thánh Antôn chuộng sự hãm mình đền tội.

Ông thánh Antôn là gương nhân đức chịu luỹ.

Ông thánh Antôn là gương nhân đức sạch sẽ.

Ông thánh Antôn là gương nhân đức khiêm nhường.

Ông thánh Antôn yêu mến thánh giá Chúa Giêsu hết lòng.

Ông thánh Antô ước ao chịu chết vì đạo hết lòng.

Ông thánh Antôn ẳm bế Đức Chúa Giêsu.

Ông thánh Antôn lòng yêu chuộng sự công chính.

Ông thánh Antôn có lòng sốt sắng giảng đạo Chúa.

Ông thánh Antôn là đèn sáng soi kẻ có tội.

Ông thánh Antôn là búa sắt phá tan bè rối.

Ông thánh Antôn là gương mẫu kẻ muốn lên trọn lành.

Ông thánh Antô yên ủi kẻ ấu lo.

Ông thánh Antôn chống trả kẻ nghịch dữ.

Ông thánh Antôn bênh vực kẻ hiền lành.

Ông thánh Antôn cứu chuộc kẻ làm tôi.

Ông thánh Antôn phù hộ kẻ đi đường.

Ông thánh Antôn hay chữa kẻ liệt lào.

Ông thánh Antôn hay làm phép lạ.

Ông thánh Antôn cho kẻ câm được nói.

Ông thánh Antôn cho kẻ tối mắt được sáng.

Ông thánh Antôn cho kẻ què chân được đi.

Ông thánh Antôn trừ ma quỉ ra khỏi người ta.

Ông thánh Antôn cho kẻ chết sống lại.

Ông thánh Antôn tìm thấy của người ta đã mất.

Ông thánh Antôn cầm dẹp cơn giận kẻ kiêu ngạo, kẻo phải chước ma quỉ cám dỗ.

Ông thánh Anton chữa lành chúng con kẻo phải sấm sét bão táp

Ông thánh Antôn chữa chúng con kẻo phải ôn dịch giặc giã cùng mọi sự dữ.

Ông thánh Antôn chữa chuíng con trong trói đời chúng con.

Ông thánh Antôn bênh vực chúng con trong trói đời chúng con.

Ông thánh Antôn bênh vực chúng con.

Chúa Giêsu chuộc tội cứu thế.

Tha tội chúng con.

Chúa Giêsu chuộc tội cứu thế.

Nghe lời chúng con.

Chúa Giêsu chuộc tội cứu thế.

Thương xót chúng con.

Ông thánh Antôn cầu cho chúng con.

Đáng được ơn cả Chúa Kitô.

LỜI NGUYỆN.

Chúng con lạy ơn ĐCT, Chúng con xin Chúa nghe lời ông thánh Antôn là đầy tớ Chúa bầu cử, mà ban cho con cái Hội Thánh hằng được sự vui mừng, cùng mọi sự lành phần linh hồn ở đời này và được hưởng sự vui vẻ vô cùng trên thiên đàng đời sau. Chúng con xin bấy nhiêu sự ấy vì công nghiệp Đức Chúa Giêsu là Chúa chúng con. Amen.
 
[1]) Hạt dòng, dịch từ Custodie. Phục Vụ Hạt Dòng dịch từ Custode. Một Tỉnh dòng (Province) xưa được phân chia thành nhiều Hạt dòng. Thời thánh Antôn, Hạt dòng Limousin thuộc Tỉmh dòng Provence, gồm miền Nam nước Pháp, bắt từ sông Loire sau đó năm 1240 được sát nhập vào Tỉnh dòng Aquitaine. Thời nay Hạt dòng Limousin gồm các yu viện Limoges, Brive, Saint Junien và Donzenac.
 
[2]) Ở đây Jean Rigauld cho thấy nguồn của phần độc đáo trong truyện: những gì các nhân chứng mắt thấy tai nghe còn nhớ, hay ít ra những gì Anh Em hoặc các người khác đã từng hỏi han các nhân chứng mắt thấy tai nghe.
 
[3] ) Thánh Antôn sinh năm 1195. Năm này được suy đoán theo năm người qua đời 1251, do Truyện Một cung cấp và như Sách Các Phép Lạ kể người mất năm 36 tuổi. Tên tuổi cha mẹ người, không một bản văn nào của thế kỷ 13 nói tới. Niên sử gia Ronaldino chỉ nói ông bà là người quý tộc và có quyền thế. Tác giả sách Đối thoại về các kỳ tích của các Thánh Dòng Anh Em Hèn Mọn cũng nói là "dòng dõi quí tộc". Phải đến thế kỷ 14, Truyện Benignitas mới cho biết ông thân sinh là hiệp sĩ của vua Alphonsô, quí danh là Martinô và thân mẫu là bà Maria. Các tác giả sau, dĩ nhiên biết nhiều hơn và ngụy tạo ra nhiều gia phả của thánh Antôn. Có một gia phả nói thánh nhân thuộc dòng họ ông Godefroy de Bouillon, vị tướng lãnh chỉ huy cuộc Đệ nhất Thánh Giá Chiến (1069-1099) và được phong làm vua ở Giêrusalem.
 
4) - Truyện Benignitas kể rằng Fernađô theo gương cha mẹ, rất từ thiện đối với người nghèo,năng lui tới các nhà thờ, các đan viện và ghi vào lòng tất cả những gì đã nghe đọc trong Kinh Thánh, tác giả nhấn mạnh đến việc thánh nhân tỉ mỉ thận trọng giữ đức thanh khiết, tâm hồn cũng như thể xác, cho đến suốt đời.
 
- Truyện Florentina và Phụ Lục Thủ Bản 74 ở Pađôva trong Một Truyện nói thánh Antôn có một em gái. Người đã làm phép lạ cho con của cô em gái này sống lại. Người cháu nhỏ này, hồi 5 tuổi, từ trên thuyền té xuống sông chết đuối. Người cháu này sau vào Dòng Anh Em Hèn Mọn. Các tác giả thế hệ sau nói thánh nhân có thêm một em gái nữa và hai anh em trai.
 
- Chúng ta biết rất ít về gia đình dòng họ và thời thanh niên của thánh nhân, trước ngày người vào Dòng Kinh Sĩ Tại Viện. Jean Rigauld đã không có phương tiện hỏi han để biết. Tác giả Truyện Một đã hỏi han Soeriô II, giám mục Lisboa, nhưng khong nghĩ đến các chi tiết này.
 
- Năm sinh 1195, dù đã được mọi người chấp nhận, vẫn chưa tuyệt đối xác thực.

- Về dòng họ của thánh Antôn, bá tước De Flandre, Fernando hoặc Fernanl, con Sancha I, vua Bồ Đào Nha, lúc nói về thánh Antôn, có nói rằng người "thuộc giới thường dân (communi plebe), nhưng từ này theo "lời nói của một ông hoàngchính thống dòng họ nhà vua" chỉ có nghĩa là thánh Anton không thuộc dòng họ nhà vua.
 
[5]) Người thời thánh Antôn quan niệm rằng dâm tà, tham lam của và kiêu ngạo là gốc rễ tất cả thói hư nét xấu.
 
[6]) Đan viện thánh Vincentê, chi nhánh của đan viện Thánh Giá tại Coimbrre, được thiết lập năm 1147, do vua Alphonsô I. Các Kinh Sĩ dâng ba lời khấn: "thanh khiết, khó nghèo và tuân phục sống thành cọng đoàn và lo việc mục vụ họ đạo". Các Kinh sĩ này không phải là đan sĩ. Luật dòng không do thánh Augustinô soạn thảo, nhưng căn bản giữa trên hai bài giảng và các thư của thánh nhân. Đã có nhiều dòng như thế được sáng lập, nhất là vào thế kỷ 11,12, với những hiến chương và tục lệ khác nhau. Đan viện Thánh Giá ở coimbre là một trong số này. Trong truyện Thánh Antôn, ta cần lưu ý điểm sau đây: các Kinh sĩ chuyên chú học hành với mục đích tông đồ mục vụ- Truyện Một nói: Fernanđô vào đan viện thánh Vincentê lúc 15 tuổi.
 
[7]) Thành lập năm 1132. Viện Phụ đầu tiên là thánh Théotonius, mất năm 1166, thọ 80 tuổi- Theo Truyện Một Fernanđô ở Đan viện Thánh Vincentê 2 năm.
 
[8]) Truyện Một viết về việc học của Fernanđô tại đan viện Thánh giá ở Coimbre như sau: "hăng hái lạ thường, Kinh sĩ không ngừng trau dồi trí tuệ và dùng suy niệm để luyện tập tâm hồn, ngày đêm, khi có thể Kinh Sĩ không ngừng đọc sách. Có lúc đọc các bản văn lịch sử chính thức, kinh sĩ ghi lấy những giải thích phúng dụ để củng cố đức tin. Có lúc Kinh sĩ rút tỉa một bài học luân lý từ các lời Kinh Thánh. Có lúc Kinh sĩ dò dẫm tìm hiểu chiều sâu của bản văn thánh, để nhờ chứng từ của kinh Thánh, kinh sĩ bảo vệ được trí tuệ khỏi lầm lẫn. Có lúc kinh sĩ cẩn trọng suy niệm lời các thánh. Tất cả những gì đã đọc, ký ức phi thường ghi nhớ hết, đến độ chỉ một thời gian ngắn, kinh sĩ đã có một kiến thức về kinh Thánh không ai ngờ được".
 
- Fernanđô ở đan viện Thánh Giá tại Coimbre 8 năm. Vậy Fernanđô 25 tuổi, khi rời khỏi đan viện này, năm 1220. Fernanđô chịu chức linh mục tại đó chưa? Không có câu hỏi nào trong chuyện Thánh Antôn gây tranh luận sôi nổi như câu hỏi này và rất khó tìm cho ra câu trả lời xác đáng.
 
[9]) Tu nghị dòng năm 1217 đã mở rộng dòng ra ngoài nước Ý. Riêng ở Bồ Đào Nha, lúc đầu, khi đến, anh em bị xua đuổi nhưng sau được hoàng hậu Urraca và quận chúa Sancia, em vua Alphonsô II che chở.
 
[10]) Ngày 16-1-1220. Mấy anh em này là: Berard, Pierre, Adijute, Accurse và Othon. Sau khi đã can đảm thuyết phục Abu-jacoub trở lại, anh em bị quốc vương này giết chết. Cuộc tử đạo của 5 anh em được một người mục kích kể lại. Hiện có 2 bản văn, một trong Niên sử 24 Tổng Phục vụ, một, quảng diễn dài dòng hơn trong Phụ lục cũng của Niên sử 24 Tổng Phục Vụ.
 
[11]) Truyện Một kể Fernanđô tâm niệm như sau: "Ước gì Đấng Tối Cao cho tôi được tham dự vào cuộc chiến thắng khải hoàn của các thánh tử đạo này! Ước gì tôi được gươm lý hình chém chết, lúc tôi quì gối xuóng và giơ cổ ra vì danh Đức Kitô! Có thể nghĩ rằng tôi sẽ được thấy như thế không? Có thể tin rằng ngày hạnh phúc như thế sẽ đến với tôi không?
 
[12]) Nhà dòng này ở Olivares, có tên là nhà dòng thánh Antôn (tu rừng).

[13]) Theo Truyện Một, Fernanđô đặt điều kiện : Anh Em phải hứa, sau khi chuyển sang dòng Anh Em Hèn Mọn, Fernanđô phải được đi sang nước Hồi Giáo, để được ơn tử dạo.
 
[14]) Theo Truyện Một, chính Fernanđô đã xin phép Viện Phụ và đã phải cầu nguyện nhiều mới xin được phép. Nghi lễ mặc áo được tổ chức ngay hôm sau cuộc gặp gỡ đầu tiên và ở ngay đan viện Thánh Giá ở Coimbre. Truyện Benignitas nói: các kinh sĩ đã buồn và không muốn cho đi, vì ai cũng nghĩ rằng có ngày Fernanđô sẽ lên giữ chức Viện Phụ.
 
[15]) Có nên nghĩ rằng lời nói của vị kinh sĩ này ngụ ý mỉa mai không? Nếu đọc kỹ mấy chữ "nay đắng trong lòng" (in cordis amaritudine) thì hình như kinh sĩ nói chua, nói lẫy. Có thể hiểu: Hãy bỏ chúng tôi và vào dòng Anh Em Hèn Mọn, vì trong dòng Anh em ấy thầy sẽ trở nên một vị tử đạo, một vị làm nhiều phép lạ- Nơi chúng tôi điều này khó hơn đối với thầy.
 
[16]) Trong dòng Phan Sinh, buổi sơ khai chưa có tập quán đổi tên. Jean Rigauld đã theo Julien de Spire và nói chính thánh nhân xin đổi tên. Truyện Một nói lý do là để tránh bà con đến thăm viếng quấy rầy. Lý do này khó có thể chấp nhận. Vì khó gì bà con không kiếm ra, hơn nữa thánh nhân cũng không đi quá xa Coimbre- Phụ Lục Thủ Bản 74 Thư viện Thánh Antôn ở Pađôva nói: hình như tên Antôn được anh em đặt cho người mới đến, vì đó là tên thánh bổn mạng của nhà dòng- Jean Rigauld cho chúng ta đặt giả thuyết: có lẽ thánh nhân do lòng khiêm nhường đã bỏ tên Fernanđô, vì ở nước Bồ Đào Nha, vua chúa cao sang thường lấy tên này. Cũng có lẽ người đã lấy tên vị thánh bổn mạng của nhà dòng, vì mến cuộc đời ẩn tu. Dù sao đây cũng chỉ phỏng đoán, vì nơi ở của Anh Em tại Olivares có tên là thánh Antôn, nhưng nơi ở này chỉ là một ẩn viện nhỏ sơ sài, không phải là một nhà dòng, một tu viện. Nếp nhà nguyện thuở ban sơ của ẩn viện ngày nay vẫn còn.
 
[17]) Các nhà biên khảo phê bình đều đồng ý: Thánh Antôn đã không qua năm Nhà Tập. Trong dòng Anh Em Hèn Mọn, nhà tập được mở do sắc chỉ Cum secundum của Đức Hôrôriô III ban hành ngày 22-9-1220. Theo Truyện Một, nếu bệnh tình thánh nhân kéo dài suốt mùa đông và người đã có mặt ở Assisi ngày 23-5-1221, thì người đã lên đường đi Maroc vào cuối mùa thu năm 1220.
 
[18]) Theo tập quán thời thánh Phanxicô và thời khai nguyên của Dòng; có lẽ thánh Antôn đã cùng một anh em đi sang Maroc, nhưng các bản cổ văn không nói đến chi tiết này. Mãi đến thế kỷ 16 chúng ta mới biết người anh em ấy là một anh em Tây Ban Nha, tên là Filippo hoặc Filippino.
 
[19]) Không một bản văn cổ nào nói chính xác về những ngày thánh Antôn ở Aicile. Có lẽ tàu đã đáp vào Messine, vì theo Truyện Một, anh em ở thành phố này đã cho người biết Tổn Tu Nghị sắp họp tại Assisi. Nhà dòng hồi ấy ở ngoài thành phố- Về sau, người ta lại nói thánh nhân có đến Taomina ở đó người đã trồng những cây ra trái như phép lạ. Người ta cũng gán cho người thành lập 4 tu viện ở miền này. Việc này không thể được đoói với một tu sĩ vừa nhập dòng, chân ướt chân ráo. Người chỉ lưu trú tại Sicile một thời gian ngắn, hơn nữa người đang bệnh và suy nhược. Có người cho rằng người có sang lại đảo này vào năm 1223 hoặc 1227, nhưng cũng chỉ là phỏng đoán.
 
[20]) Tổng Tu Nghị này họp ở Assisi, lễ Hiện Xuống, 30-5-1221. Toàn thể anh em có quyền về tham dự. Đây là tu Nghị cuối cùng theo thể thức này. Jourdain de Giano, trong Niên sử của anh, với nhiều nén thơ linh động, đã kể về cuộc họp này. Có mặt 3.000 anh em, khấn rồi cũng như tập sinh. Có hồng y Reynerio Capocci, giám mục Viterbio, có nhiều giám mục và tu sĩ tham dự. Tu nghịhọp 7 ngày. Dân Assisi đón tiếp anh em nồng hậu và tiếp tế rộng tay. Anh em đã phải ở lại thêm hai nfày để dùng cho hết thức ăn còn dư.
 
- Chúng ta rất tiếc không biết có còn dịp nào thánh Antôn được tiếp xúc với thánh Phanxicô nữa không. Chỉ biết vị thánh nghèo rất quí mến thánh Antôn, đã viết thư gửi thánh Antôn, mặc dầu nguyên bản lá thư ngày nay không còn.
 
- Điểm đáng lưu ý là Salimbene, trong bộ Niên sử của anh, soạn từ năm 1282 đến 1287, có dành cho thánh Antôn và hàng và gọi người là "Socius beati Francisi" (bạn đồng hành của thánh Phanxicô), Ta cũng gặp từ "Soucius" này trong hai chương 48,49 của sách Actus beati Francisci et sociorum ejus (Hành vi của thánh Phanxicô và các bạn đồng hành của người).Những bông hoa nhỏ (Floretti), chương 39 cũng dùng từ "soucius) này.
 
[21]) Phụ Lục bản 74, Thư Viện Thánh Antôn ở Pađôva và Truyện Raymondina nói hoàn toàn khác hẳn: không phải thánh Antôn khẩn khoản anh Gratien cho đi theo, chính anh Gratien yêu cầu thánh nhân, vì lý do thiếu linh mục trong dòng - Tổng Phục Vụ: Anh Elia.
 
[22]) Chơi chữ: Gratia, grâce, Gratien, ân sủng.

[23]) Monte-Carlo cũng ở gần Forli. Thánh Antôn cũng như thánh Phaxicô rất ưa thích cảnh lặng lẽ, thường đến ẩn tu những nơi xa vắng.
 
[24]) Truyện Một tường thuật dài dòng những ngày thánh Antôn ở Monte-Carlo. Người xin một anh em nhường cho một hang động do anh đào sâu trong núi. Ở đó người đã hành xác khổ hạnh, mỗi ngày chỉ mang theo một ít bánh và nước trong. Buổi chiều, lúc về với anh em, người phải tựa vào một anh em để khỏi té xỉu.- Phủ lục thủ bản Pađôva thêm: người vẫn tham gia công việc trong nhà, người quì gối xin anh Phục Vụ tại đó cho phép được rửa bát dĩa và quét dọn nơi anh em ẩn tu.- Truyện Benignitas sơ lược nói đến các cơn cám dỗ người đã trải qua do ma quỉ bủa giăng.
 
[25]) "Contigit quod beatus Antonius, necnon quamplures de Fratibus pro suscippiendis ordinibus ad civitatem Forlivi a suis puperioribus mitterentur. "Câu văn không rõ ràng, nhưng ý nghĩa gợi ngay trong trí ta là thánh Anton thuộc số anh em sắp chịu chức. Ấn tượng này được tăng cường do một câu văn trong Truyện của Julien de Spire và trong Truyện Một. Tác giả Truyện Một viết: "Contigit Fratres ad civitatem Forlivii Prosuscipiendis ordinibus transmitti. Convenientibus ex diversis partibus ob dictam causam Fratribus et Preadicatoribus, affuit inter eos Antonius. "khó mà chủ trương rằng "ob dictam causam", "vì lý do ấy", "vì lý do chịu chức", lại không liên quán đến thánh Antôn. Như đã biết Phụ Lục Thủ bản 74 ở Pađôva và Truyện Raymondina khẳng định quả quyết thánh nhân đã là linh mục, khi người tham dự Tổng Tu Nghị Assisi 30-5-1221. Đàng khác Niên Sử 24 Tổng Phục Vụ kể rằng thánh Antôn, lúc dâng thánh lễ tại tu viện Thánh Giá ở Coimbre, đã thấy linh hồn một anh em thánh thiện bay về trời, vào đúng giờ anh qua đời. Nhưng sách Niên Sử 24 Tổng Phục Vụ được soạn rất muộn về sau, nên ta khó có thể tin được. - Các sử gia hiện đại chia làm hai phái, hay đúng hơn là 3 phái: phái chủ trương thánh Antôn đã là linh mục trước khi chuyển sang dòng Anh Em Hèn Mọn, phái chủ trương thánh Antôn chịu chức linh mục ở Forli, phái do dự không cho ý kiến, viện lẽ thiếu sử liệu, thuộc phái này có hai nhà biên khảo phê bình cự phách là Léon de Kerval và Lepitre.
 
- Nhiều nhà phê bình nghĩ đây là một bữa tiệc liên hoan, không phải là buổi lễ truyền chức.
 
[26]) Trong các nhà chép truyện cổ về thánh Antôn, chỉ có Jean Rigauld kể chuyện phân thân này, nhưng lại không ghi ngày tháng. Các tư liệu khác có thể giúp ta bổ khuyết phần nào. - Thánh Antôn ở Limoges năm 1226, điều này đích xác. Một nhà biên niên sử thế kỷ 13, tê là Pierre Coral, giữ chức Viện Phụ Đan Viện Thánh Martinô tại Limoges năm 1247, nói rõ rằng năm ấy, thánh Antôn, với một vài điều kiện, đã nhận một nơi ở trong các dãy nhà phụ thuộc của đan viện, để cho Anh Em Hèn Mọn tá túc. Bernard Guy, ở một chú thích trong bộ lịch sử dòng Đaminh cũng khẳng định lời nói của Pierre Coral: "Tôi đã đọc ở một chỗ khác rằng Anh Em Hèn Mọn đến Limoges, lần đầu, vào năm 1224". - Vậy phép lạ phân thân này phải xảy ra vào năm 1226 hoặc 1227. Truyện Benignitas và Phục lục Thủ bản Lucerne còn kể thêm một hiện tượng phân thân nữa ở Montpellier, " vào lúc thánh Antôn giữ chức giảng viên, dạy thần học ở đó", nhân một ngày đại lễ, không nói là lễ gì. Người phải hát Alleluia ở cung thánh của Anh em, đồng thời phải giảng trước các giáo sĩ và các giáo dân. Lúc về hát Alleluia, người vẫn đứng trên toà giảng cúi gập xuống như muốn ngủ. - Sách Các phép lạ kể cả haảituyện liên tiếp với một câu chuyển: "Đã xảy ra cho người một việc tương tự... "Đây hẳn là một truyện kể thành hai truyện. Dựa vào uy tín của Jean Rigauld, phải nói là sự việc đã xảy ra ở Limoges.
 
[27]) Truyện Floretina đã phóng đại phép lạ một cách ngớ ngẩn nói rằng có con heo cắn nát cái vòi thùng rượu làm cho rượu chảy tràn lan. Còn cái ly vỡ tan ra từng mảnh.
 
[28]) Sách Các Phép Lạ phóng đại: anh tập sinh té xuống đất bất tỉnh, được thánh nhân đỡ dậy. Anh còn được nhiều thị kiến nữa
 
[29]) Brive là một trung tâm sùng kính thánh Antôn ở Pháp. Uy tín của Jean Rigauld đủ để bảo đảm rằng chính người đã đem anh em Hèn Mọn đến ở nơi đây. Tiếc rằng tác giả đã không nói gì đến những ngày người ẩn tu trong hang động rất danh thắng ở đây, cách thành phố gần một cây số rưỡi, về hướng Toulouse - Sách Các Phép Lạ cũng kể truyện này, lời lẽ tương tự. Sách kể thêm: "Trong một hang động, khá xa thành phố, người nhờ làm một chỗ ở và người đã đào giữa đá một mạch nước để có nước từ đá chảy ra. Người ở đó đơn độc, rất khắc khổ, và chuyên tâm suy niệm."
 
[30]) Truyện này đã được Sách Các Phép lạ chép lại nguyên văn không thể biết được truyện này xảy ra trước hay sau thời gian thánh Antôn ở Pháp. Các sách viết trước sách của Jean Rigauld không nói đến. Jean Rigauld đã không theo thói quen, không cho biết nơi chốn, không cho biết đã trích ở nguồn nào, nguồn khẩu truyền hay nguồn thành văn.
 
[31]) Các đan sĩ Biển Đức.

[32]) Sách Các Phép Lạ kể lại truyện này, có nói thêm về nơi chốn chính xác: tại đan viện ở Solignac gần Limoges. Cũng sách này kể rằng thánh Antôn đã cởi cái áo trong đưa cho đan sĩ. Coàn Jean Rigauld lại nói người đã thay áo ra từ trước, vì tính người ưa sạch sẽ.
 
[33]) Thánh Antôn không sang Tây Ban Nha. Đây phải nói là người sao chép vô ý viết sai, phải sửa lại là ở Ý.
 
- Có một khó khăn lớn đối với phép lạ này: Phép lạ này cũng được cho là do một tu sĩ Đaminh, thánh Pierre Martyr mất năm 1252, đã làm, và được một anh em đồng thời kể lại. Do đó tất cả các nhà chép truỵên thánh Antôn đều lưỡng lự. Sách Các Phép Lạ và Phụ Lục Thủ Bản Lucerne nói tên anh thanh niên là Léônarđô và là người ở Pađôva. Hai bản này cũng thêm rằng, khi thánh Antôn nghe người thanh niên xưng tội, người đã quở trách: "Cái chân đá mẹ đáng phải chặt bỏ ngay". Người thanh niên chất phác đã hiểu sai ý người và gây ra việc chặt chân - Dù sao, phép lạ cũng đã chiếm một chỗ lớn trong nghệ thuật hội họa và điêu khắc trình bày cuộc đời thánh Antôn. Bức họa cổ nhất được vẽ trên kính màu, về thế kỷ 13, trong Vương Cung Thánh Đường tầng dưới ở Assisi. Tượng điêu khắc của Donatello rất đẹp tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Antôn ở Pađôva.
 
[34]) So sánh này được sách Hành vi và niên sử gia Rolandino dùng, nhưng với từ ngữ hơi khác. Hòm bia cựu ước và mô hình Tân Ước (Arca Veteris Testsmenti et forma Novi).
 
- Sách Những Bông Hoa Nhỏ kể: "Một hôm Antôn được vinh dự giảng trước hội đồng có Đức Giáo Hoàng, các Đức Hồng Y và nhiều vị giáo sĩ cao cấp tham dự. Các vị này thuộc nhiều quốc tịch khác nhau: Hy Lạp, La Mã, Anh, Đức, Pháp, Thuỵ Điển... Antôn được ơn Chúa Thánh Thần khiến hứng, trình bày đề tài hôm ấy hùng hồn, cao sâu, gãy gọn, rõ ràng. Kết quả toàn thể cử toạ, ngôn ngữ khác nhau, đều nghe như diễn giả trực tiếp nói tiếng nước mình. Bỡ ngỡ vì thấy phép lạ ngày lễ Hiện Xuống đầu tiên lại tái diện, các vị thính giả thì thầm hỏi nhau:
 


- Tu sĩ này người Bồ Đào Nha, sao tôi lại nghe nói tiếng nước tôi? Lạ thật!

Chính Đức Giáo Hoàng suy nghĩ về những tư tưởng thâm thuý cao siêu Antôn giảng, cũng phải khâm phục và tuyên bố:
 
- "Quả thực người này là Hòm Bia Giao Ước và là bể chứa Thánh Kinh".

Chỉ tiếc không rõ thánh Antôn sang Rôma năm nào và với mục đích gì.-Như ta đã biết thánh Antôn được tuyên dương Tiến Sĩ Họi Thánh, do Đức Piô 12, ngày 16-1-1946.
 
[35]) Kiến thức này, không những thánh nhân san sẻ cho thính giả nghe giảng, mà còn cho sinh viên của người. Chúng ta biết rõ người đã là giảng viên, là giáo sư thần học. Chúng ta lấy làm lạ, khi thấy tác giả Truyện Một, Julien de Spire và Jean Rigauld không nhắc đến việc dạy học của người. Trong lúc thánh Phanxicô đã viết thư cho người, có lời: "Tôi bằng lòng để anh dạy khoa thần học thánh cho anh em, miễn là đừng vì học vấn mà anh em dập tắt tinh thần suy niệm thánhvà lòng sốt mến như đã chép trong luật dòng. "Thánh Antôn đã dạy ở Bologna Theo Phụ Lục Thủ Bản Lucerne, Truyện Benignitas và Sách Các Phép Lạ, người còn dạy ở Montpellier. Nếu tin được Barthélémy de pise, thì người còn dạy ở Toulouse nữa. Anh này thêm, người còn dạy ở Pađôva, nhưng không ai tin.
 
[36]) Giáo phái Cathares, đối đầu đáng sợ nhất của Giáo Hội ở miền Bắc nước Ý và miền Nam nước Pháp.
 
[37] ) Giám mục Maximin (?)

[38]) Truyện này là một trong các mẫu truyện được công nhận là xác thực hơn hết trong tiểu sử thánh Antôn.Truyện được chép trong Đệ Nhất Truyện của Celano và trong Đại Truyện của thánh Bonaventura. Nhưng Jean Rigauld cũng như Celano nói thánh Phanxicô đứng ở cửa, còn thánh Bonaventura nói thánh Phanxicô tham dự tu nghị. Theo Benvenuti, tại Tu nghị này thánh Antôn được cử giữ chức Phục Vụ hạt Dòng Limousin và người đã giữ chức này một năm. Ngay sau khi lễ Phục Sinh, người đi Assisi tham dự Tổng Tu Nghị 30-5-1227, ở đó người được cử giữ chứcTỉnh Phục Vụ Tỉnh Dòng Romagna. Người giữ chức này cho đến Tổng Tu Nghị 26-5-1230. Sau đó người được giải nhiệm để chuyên môn đi giảng. Các tính toán ngày tháng này đáng chúng ta lưu ý, nhưng không làm cho chúng ta tuyệt đối xác tín. Không một bản văn cổ nào nói thánh Antôn được cử giữ chức Phục Vụ Hạt Dòng Limousin tại Tu Nghị Arles. Có thể người đã giữ chức vụ đó trước rồi, trước khi đến tham dự Tu Nghị này, đàng khác chúng ta không rõ ngày tháng Tu Nghị này họp. Chúng ta cũng không có tài liệu nói thánh Antôn đã hiện diện ở Tổng Tu Nghị 1227.

[39]) "Tibi loquar cornute" ám chỉ cái mũ giám mục có hình nhọn, ta thường gọi là mũ cà cuống. Vị Tổng giám mục này là Simon de Sully, nhưng không thể biết được các "Sai sót đè nặng lương tâm ngài" là những sai sót gì. Có nhà phê bình căn cứ vào câu: "Từ đó ngài ủng hộ anh em hơn", mà chủ trương rằng ngài đã không ưa và công kích dòng Anh Em Hèn Mọn. Nhưng thánh Antôn đâu đến nỗi vùng về đến độ dùng dịp một cuộc Hội đồng giám mục để công khai trách cứ một tổng giám mục, chỉ vì một vấn đề hoàn toàn nội bộ. Truyện này cũng được Sách Các Phép Lạ kể và kể nguyên văn.
 
[40]) Bài giảng cho cá của thánh Antôn là một mẫu truyện song song với bài giảng cho chim của thánh Phanxicô, nhưng quả thật nhợt nhạt. Cũng một tư tưởng được diện tả: Tạo vật không có lý trí cũng phải như loài người cảm tạ Đấng Tạo Hoá vì những ân huệ người ban. Nhưng chủ đích hay bài giảng khác nhau: Thánh Antôn muốn làm cho người lạc giáo bẽ bàng, thánh Phanxicô khởi hứng do lòng yêu mến tạo vật. Thánh Antôn nói, ngụ ý "cho đám đông cùng nghe". Thánh phanxicô "bỏ các bạn đồng hành trên đường đi, bước xuống đám ruộng với bầy chim". - Truyện thánh Antôn giảng cho cá cũng được Truyện Florentina kể, nhưng vắn tắt hơn. Nếu Truyện Florentina thực sự được viết về thế kỷ 13, thì chúng ta có một xác nhận cổ nhất vè phép lạ này. Dù sao vấn đề cũng chưa được giải quyết xác đáng. - Sách Các Phép Lạ cũng kể, nhưng kể theo văn bản của sách Hành Vi, không kể theo văn bản của Jean Rigauld. - Đã có khác nhau về địa điểm: Jean Rigauld nói gần Pađôva, như thế co sông sẽ là Erenta. Sách Hành Vi nói ở Rimini, con sông sẽ là Marecchia. Tuy Jean Rigauld có uy tín, nhưng các nhà phê bình hiện đại đều đồng ý nói là ở Rimini, vì ở đó có một nhà nguyện xây cất kỷ niệm phép lạ và có lẽ xây cất từ năm 1569, vì đã có truyền thống lâu đời nói thế và vì Jean Rigauld có thể lầm lẫn khi kể một truyện xảy ra xa xôi ở bên tận nước Ý. Dù sao vấn đề vẫn không được quả quyết tuyệt đối. - Có người chủ trương đơn giản: Đã có hai lần giảng cho cá, một lần ở Rimini, một lần ở "Lombardia, gần một con sông".
 
[41]) Jean Rigauld nói đến một tuyển tập, như vậy tác giả đã không kể theo khẩu truyền. Chỉ tiếc tác giả không nói đến tuyển tập ấy. Truyện Florentina và tất cả các bản văn cổ khác đều không nói đến. Jean Rigauld là người đầu tiên nói đén phép lạ này nhưng lại không nói xảy ra ở đâu, có lẽ vì truyện tập không nói. Nhưng chắc hẳn không phải ở Pháp cũng không phải ở Toulouse như Truyện Benignitas và Sách Các Phép Lạ đã nói, cũng không phải ở Bourges nhue sử gia Wadding nói, căn cứ vào một bài thơ ngắn bằng tiếng Pháp sáng tác đầu thế kỷ 16. - Nếu một phép lạ ngoạn mục như thế đã xảy ra ở Pháp, hẳn Jean Rigauld đã trực tiếp nghe nói đến - Barthélémy de Pise nói tên người lạc giáo là Bonillo, phép lạ xảy ra ở Rimini, và người lạc giáo này bảo sẽ cho con lừa của ông ăn Mình Thánh như ông đã quen làm. Tuy Barthélémy de Pise giàu tưởng tượng và không có uy tín lịch sử nhưng các nhà phê bình đã muốn gã theo và cho là phép lạ xảy ra ở Rimini, vì ở đó, từ thế kỷ 15, có lẽ từ năm 1477, đã có một nhà nguyện bát giác được cất lên để lưu niệm phép lạ này - Ít có sự việc trong cuộc đời thánh Antôn được các nhà điêu khắc và họa sĩ ưa trình bày như phép lạ này. Ở vương cung thánh đường Thánh Antôn tại Pađôva có hình chạm nổi rất đẹp, do Donatello, nhưng hậu cảnh laị ở trong một nhà thờ.
 
[42]) Đây là bản văn thứ nhất được biết, kể về phép lạ này. Sách Các Phép Lạ kể theo. Bernard de Guy cũng kể theo và có sử chữa ít mhiều. Barthélémy de Pise nói xảy ra ở Bourges và không nói gì đến Le Creux dé Arènes (Fovea de Arenis: thung lũng đấu trường). Anh nói đã nghe một anh em kể, người anh em này đã thấy phép lạ được khắc trên đá trong Vương Cung Thánh đường ở Bourges.
 
[43]) Điều chắc chắn là thánh Antôn đã ở thành phố Limoges năm 1226

[44]) Theo Phụ Lục Thủ Bản Lucerne và Truyện Benignitas, thánh Antôn đã giữ chức vụ Tỉnh Phục Vụ Tỉnh Dòng Româgn. Sự kiện này không còn có thể hồ nghi, nhất là sau khi đã khám phá ra tại Thư Viện Thánh Antôn tại Padova một bài giảng, giảng vào giữa những năm 1263 và 1281, do một anh em tên là Luca. Bài giảng khẳng định sự kiện này rõ ràng.
 
[45]) Đã có khác biệt giữa hai bản văn của Truyện Một và của jean Rigauld. Jean Rigauld chỉ nói các bài giảng Chúa nhật được soạn trước, không nói ở đâu. Truyện Một nói rõ là ở Pađôva. - Các bài giảng Chư Thánh, Jean Rigauld nói là để tán dương Chư Thánh. Truyện Một nói là các ngày lễ Chư Thánh, đã được soạn tại Pađôva, mùa đông năm 1230- 1231, năm trước thánh nhân qua đời. - Các nhà phê bình hiện đại đều đồng ý rằng: tất cả những soạn phẩm gán cho thánh Antôn ngoài hai sưu tập này, đều không thực sự là của người. Các bài giảng của người hiện nay đã được xuất bản.
 
- Theo Truyện Benignitas, và đây là điều tin được, thánh Antôn đã giảng bằng tiếng Ý.
 
[46])Có thể so sánh đoạn văn này với đoạn văn của một tu sĩ Đaminh, đồng thời với thánh Antôn, tên là Barthélémy de Trente: "antôn giảng cho dân Pađôva và đã đưa nhiều người cho vay nặng lãi đến bồi thiệt hại, ở đó người đã giảng nhiều bài rất hay. "Tu sĩ nói thêm rằng đã biết thánh nhân nhiều. - Về những người tù tội được tha, có một khoản luật của Pađôva, được ban hành ngày 15-3-1231, do lời yêu cầu của thánh nhân. Theo khoản luật này các tù nhân thiếu nợ được trả tụe do với điều kiện đem gia sản gán cho chủ nợ
 
[47]) Cuộc cải táng này được tổ chức ngày 8-4-1265. Đã có nhiều cuộc cải táng, tuỳ từng giai đoạn xây cất tại Vương Cung Thánh Đường thánh Antôn tại Padova. Cuộc cải táng nói trên là cuộc thứ nhất. - Truyện về cái lưỡi còn y nguyên này do jean Rigauld kể, cũng được Truyện Raymondina Phụ Lục Thủ Bản Lucerne, Truyện Một và Sách Các Phép Lạ kể. - Đây là nguyên vănlời của thánh Bovaventura thốt lên: "Lưỡi diễm phúc,lưỡi đã luôn ca ngợi Chúa và làm cho người khác ca ngợi Chúa! Bây giờ người ta mới thấy rõ công nghiệp của lưỡi như thế nào trước mặt Chúa."
 
[48]) Thánh Antôn đã không hoán cải được bạo chúa Ezzelinô III da Romanô ở Verone, khi người đến trách cứ tội ác của ông, bắt ông dẹp lòng hống hách và ăn năn thống hối, ít ra như lời kể của Truyện Benignitas, Phụ Lục Thủ Bản Lucerne và Sách Các Phép Lạ. Sự thực khác hẳn: thánh antôn đến Verono, với mục đích xin trả tự do cho bá tước Richard de San Bonìaciô, lãnh tụ đảng ủng hộ Giáo hoàng ở Lombardia, bị giam giữ từ tháng 4-1230, nhưng thánh nhân đã hoàn toàn thất bại, theo lời xác nhận của niên Sử do Rolandino, chưởng khế ở Padova, soạn vào năm 1260, cũng như một Niên Sử đồng thời. Rolandino nhắc nhở đến thánh Antôn vắn tắt, nhưng đá là tư liệu rất quí. Ông nói vào cuối năm 1229 thánh antôn đến ở luôn tại Padova. Ông tường thuật sơ lược các cuộc giảng dạy của người, và kể rằng sau vụ đến gặp Ezzelino, thánh nhân rút lui vào cảnh thanh vắng ở Composampỉeo để suy niệm Thánh Kinh.
 
[49]) Truyện Một và Julien de Spire tường thuật chi tiết Truyện Một tường thuật hơn, đại khái: Camposampiero là lãnh thổ của một nhà quí tộc, tên là Tiso rất quí mến thánh Antôn, thường tiếp đãi người nồng hậu. Gần nhà dòng Anh Em Hèn Mọn, ông có một cánh rừng, trong rừng có một cây đào cổ thụ, rất cao, cành lá um tùm. Một hôm, thánh Antôn ngắm cây khen đẹp, và ao ước có một cái chòi cất trên cành cây, để được thanh vắng suy niệm.
 
Ông Tiso tự tay cất cái chòi cho người, "và đó là nơi ở cuối cùng của người ở trần gian", người lên đó gần trời hơn.- Roladino cũng kể truyện cất cái chòi trên cây hanh đào.
 
- Đề tài "Thánh Antôn ở trên cây hanh đào" cũng được nghệ thuật nước Ý diễn tả. Có lúc rất ngộ nghĩnh: thay vì cái chòi, là một cái ghế, đăth giữa chạng ba cành cây, thánh Antôn ngồi giữa cành lá um tùm, giảng cho dân chúng đứng nghe dưới gốc cây. Bức hoạ ở nhà nguyện Camposampiero là do Bonifacia II de Verone. - Sách Các Phép Lạ kể thêm: Thánh Antôn xin phép Tỉnh Phục Vụ cho phép đi ẩn tu một nơi thanh vắng, nhưng người vô ý để mất lá thư xin phép. Người nghĩ như thế là do ý Chúa không muốn. Sau bỗng có thư trả lời. Tỉnh Phục Vụ đồng ý. Thư đến đã phải qua một thời gian như đã có thư đi. Người ta "có lý để nghĩ rằng" thư đã được thiên thần mang đi.
 
[50]) Đan viện này tên là Cella, nay gọi là Arcella, ở Capo di Ponts (Đầu Cầu), một khu xóm ngoại ô Pađôva.
 
[51]) Thánh thi kinh Sáng Đức Mẹ: O gloriosa Donina.

Excella super sidera.

Sau Đức Urbanô VIII đổi lại: O gloriosa Viginum

Sublimis inter sidera.

[52]) Truyện Một kể khác và đã gây nhiều tranh luận: Thấy một Anh em chuẩn bị ban bí tích sức dầu, người nói: "Bí tích xức dầu vẫn hữu ích đối với tôi và làm tôi vui lòng". Thủ Bản 74 Thư Viện Pađôva không có câu này. Trái lại các Thủ Bản khác đều có, nhất là trong sách Đối thoại về Huấn nghiệp của các thánh dòng Anh Em Hèn Mọn, nên có thể coi như có thực.
 
[53]) Truyện Một không nững ghi dài dòng lời than khóc của các Bà Nghèo ở Arcella, lại còn trường thuật các cuộc thương lượng giữa các nữ tu này và các tư pháp viên thị trấn để giữ lại thi hài thánh nhân trong đan viện: "Chúng tôi đã không trômng thấy người lúc người còn sống, xin cho người được ở với chúng tôi khi đã chết."
 
[54])Tường thuật do Truyện Một có nhiều chi tiết hơn: Giám Mục Jacques Conrado đã can thiệp ngay, không đợi đến ngày thứ tư. Ngài họp Hội đồng cố vấn, nghe đôi bên khiếu nại. Ngài xử cho Anh Em tu viện Đức Mẹ thắng và yêu cầu thị trưởng ủng hộ. Nhưng dân Capodiponte nhóm họp, cương quyết hy sinh tánh mạng tài sản, không thể đem thi hài thánh nhân đi nơi khác. Nhân vì Anh Phục Vụ Tỉnh Dòng đi vắng, người ta quyết định đợi Anh về, trước lúc dùng biện pháp mạnh. Ban đêm, anh em ở Arcella đặt chướng ngại vật ngăn chặn, anh em có lý, nhưng chẳng ăn thua gì.
 
[55] ) Truyện Một kể tiếp: thì hài được tẩm liệm vào một quan tài bằng gỗ ngoài bọc đất. Nhân có tin đồn thi hài đã được chôn dấu, một cuộc náo loạn nữa lại xảy ra. Những người náo loạn kéo tới nhà donmgf, phá cửa và tìm quan tài. Họ gõ xem có thực thi hài còn trong đó không. - sau đó, Truyện Một tường thuật sự can thiệp của Anh Tỉnh Phục Vụ và của ông thị trưởng. Vị này cho lính tới canh thư viện và cấm dân chúng không ai được mang khí giới, trái lệnh sẽ bị phạt 100 đồng. Cuối cùng Truyện Một kể tóm tắt cuộc tranh luận diễn ra trước sự hiện diện của Đức Giám Mục, và hàng giáo sĩ do giám mục triệu tập. Truyện nhấn mạnh đến lý lẽ của Anh tỉnh Phục Vụ đưa ra: "Tu sĩ antôn đã chọn tu viện Thánh Maria làm nơi an nghỉ cuối cùng, nếu lời khấn vâng lời cấm tu sĩ lựa chọn như thế, thì bề trên tu sĩ có thể định đoạt thay tu sĩ."
 
[56]) Các Bà Nghèo nghĩ rằng sự can thiệp của các bà đã là nguyên nhân gây náo lọan,nên các bà sợ và khẩn khoản xin Chúa thương. Ông thị trưởng cho hô hào dân chúng tập họp teứơc sạnh đường rồi giữ dân Capodiponte náo loạn tại đó.
 
[57])Truyện Một kể rất chi tiết vè các phép lạ và lòng phấn khởi sốt sắng của dân chúng. Có ngững đoạn kể rất thú vị về chiều cao và trọng lượng các cây đèn sáp ong. Có ngững cây quá cao phải cưa ra từng khúc,mới đem vào được nhà thờ.
 
58) Truyện Một kể:có các người Vénitiens, các người ở Trévise, ở Vicenne, ở Aquilée, các người Lombardie, Slaves, Đức và Hungari.
 
[59]) Truyện Một nói: không đầy một tháng sau ngày thánh nhân qua đời.

. [60]) Đức Grêgôriô IX, trước là hồng y Hugôlinô, bạn của thánh Phanxicô.

[61]) Phép lạ này cũng được kể trong phụ lục Thủ Bản Pađôva. Trong Truyện Một và trong Sách Các Phép Lạ.
 
[62]) Câu văn gần như không thể hiểu được. Delerme dịch: ".... với cái lưỡi mới, anh nói một vài câu có thể hiểu được, mặc dầu cho đến nay anh chưa biết một thứ ngôn ngữ nào".
 
[63]) Sách các Phép Lạ kể dài hơn. Việc xảy ra hình như ở Santarem. Con sông là Le Tage. Ông vua là Denys, chồng bà thánh Élisabeth de Portugal, trì vì từ 1279 đến 1325.
 
[64]) Câu trích trog kinh thần tụng thánh Antôn, do Julien de Spise. Truyện Một kể thêm: Hiệp sĩ tên là Albardino. Ông đã đến hành hương Padova với vợ con, với bà con rất đông. Chính ông đã đưa cái ly không vỡ cho anh em xem và kể lại sự kiện đã xảy ra.
 
[65]) Câu cũng trích ở thần tụng kinh thánh Antôn. Truyện Một kể thêm: Tên vị giáo sĩ là Guidôt. Giáo sĩ có tham dự cuộc kiểm tra các phép lạ trước giám mục Padova. Ông đã nhờ mẹ ông khấn cho ông.
 
[66]) Hơn tất cả các sách sưu tập phép lạ, bài đáp ca sau đây nhan đề " Si quaeris miracula" đã phổ biến khắp nơi và qua các thế kỷ vinh quang sáng ngời của vị thánh hay làm phép lạ ở padova.
 
- Nếu bạn tìm phép lạ, tử thần, lạc giáo, tai hoạ, ma quỉ, phung cùi tẩu thoát, người bệnh tật chỗi dậy lành mạnh.
 
- Sóng yên bể lặng, xiềng xích đứt rơi, người trẻ và người già, xin và được lại tay chân và đồ vật bị mất.
 
- Nguy hiểm biến tan, cảnh khổ chấm dứt, như những người cảm nghiệm thuật lại, như người dân Padova kể.
 
- Ta nên lưu ý, đây là bằng chứng cổ nhất, nói đến lòng tin tưởng của đại chúng, xin thánh Antôn cho tìm thấy của cải vật dụng đã mất.
 
- Ai là tác giả sáng tác bài đáp ca? Trước người ta nghĩ là thánh Bonaventura, nhưng hiện nay các nhà phê bình đều nói là Julien de Spire.
 
[Hết Truyện]

 

 

 

 

 

Print In trang | sendtofriend Email | back Trở về
  
Tin/Bài mới
__sách Cuộc Đời Thánh Giuse (01.mục Lục - 12.chương #09/62) (6/3/2017)
Thánh Vincent Ferre (1350 – 1419) #2 (4/5/2016)
Hè Kỳ Ngộ Với Thánh Vinh Sơn (1350 – 1419) #1 (4/5/2016)
Tin/Bài cùng ngày
Thánh Antôn Pađua (6-9) (6/21/2014)
Thánh Antôn Pađua (1-5) (6/21/2014)
Tin/Bài khác
Quyển Ii: Các Phép Lạ Thánh Clara Làm Sau Khi Từ Giã Cõi Đời (8/11/2012)
Truyện Thánh Nữ Clara, Quyển 1 (8/11/2012)
Truyện Thánh Nữ Rita (14) (2/24/2012)
Truyện Thánh Nữ Rita (13) (2/24/2012)
Truyện Thánh Nữ Rita (12) (2/24/2012)
MeMaria.org -- Từ 15/4/1999 lần truy cập -- Kim Hà [Valid RSS]
Copyright © 2011 www.memaria.org. All Rights Reserved. Powered by VNVN System Inc.
Best view with IE 7.0, Fire Fox, resolution 1024x768