MeMaria.org
Radio Giờ Của Mẹ - Giờ Bình An - Giờ Tin Yêu - Giờ Hy Vọng
(714) 265-1512. Email: Kim Hà
banner
Google Search
memaria www  

Local Search
PayPal - The safer, easier way to pay online!
top menu :: mẹ maria
Thay đổi kích cỡ chữ đọc:
  
32- Các Mầu Nhiệm Đời Mẹ Maria --> Phần 3-- Chương 3a. 1-làm Sao Hòa Hợp Việc Cộng Tác Cứu Độ Trực Tiếp Của Đức Maria Với Việc Cứu Chuộc Độc Nhất Do Chúa Kitô Thực Hiện?
Thứ Bảy, Ngày 15 tháng 1-2022
CHƯƠNG 3

LÀM SAO HÒA HỢP VIỆC CỘNG TÁC        CỨU ĐỘ TRỰC TIẾP CỦA ĐỨC MARIA

VỚI VIỆC CỨU CHUỘC ĐỘC NHẤT

DO CHÚA KITÔ THỰC HIỆN?

          Để hòa hợp vai trò cộng tác cứu độ của Đ.Maria bên cạnh ĐK tử nạn, với ĐK là Đấng cứu chuộc và Trung Gian độc nhất, vốn là qui chế của Th.Phaolô nêu ra, có hai đường hướng:

1- Đường hướng Kitô-học: đặt Đ.Maria về phía ĐG tử nạn như một Cộng tác viên thân cận của Ngài.

2- Đường hướng Giáo-Hội-học: đặt Đ.Maria về phía nhân loại đang cần cứu độ, và coi Người như đại diện cho nhân loại, bởi tin và mến, trước Đấng Cứu chuộc.

1) Ai chọn lựa đường hướng Kitô-học (đặt Đ.Maria bên cạnh ĐG tử nạn), nếu không cẩn thận dễ rơi vào nguy cơ làm tổn thương đến ưu thế tuyệt đối và tính độc nhất của công trình cứu chuộc của ĐK, bằng những lời quả quyết thiếu kiểm soát và cân nhắc, có nguy cơ làm Đ.Maria trở nên một Bà Cứu thế thứ hai, một vị trung gian thứ hai, bên cạnh Đấng Trung Gian chính thức, và hợp với ĐK thành một nguyên lý toàn diện gây sự cứu rỗi và sự sống của nhân loại. (X. Cl. Dillensc., Sđd, 350tt).

Công đồng Vat. II đã cảnh cáo lý thuyết ấy khi tuyên bố: “Mọi ảnh hưởng có sức cứu rỗi của ĐTN trên nhân loại không phát sinh từ một sự cần thiết khách quan nào, nhưng… bắt nguồn từ công phúc dư tràn của CK” (GH, số 60).

- Ngay cả việc sử dụng cụm từ “Đồng công cứu chuộc” một cách đơn giản quá cũng nên coi chừng nguy cơ dị nghĩa và hàm hồ. Vậy không nên dùng từ ấy với nghĩa mạnh mà không xác định rõ ràng. Nếu không, người ta sẽ lầm tưởng mà đặt Đ.Maria thành một vị cứu chuộc thứ hai bên cạnh, tuy tùy thuộc, vị cứu chuộc thứ nhất là ĐGK.

Hồng Y Newman phản đối mạnh mẽ quan điểm ấy: “Nếu tôi ghê tởm lý thuyết tà giáo ấy đến như thế, vì nó đã gán cho Đ.Maria cái phần mà trong cuộc cứu chuộc chỉ dành riêng cho ĐK mà thôi, huống chi chính Đ.Maria lại chẳng lấy làm ghê tởm hơn nữa sao, vì lòng Người yêu thương ĐK lớn lao hơn ta bội phần? Chúng ta biểu lộ lòng thương mến đối với Người như thế, lại là đúng lúc ta đâm vào con ngươi trong mắt Người?” (Difficulties, II, 103).

2) Còn đối với ai chọn lựa đường Giáo-Hội-học (đặt Đ.Maria về phía nhân loại đang cần cứu độ), thì để tránh những hiểu lầm đáng tiếc, phải lưu ý đến những khía cạnh phức tạp của mầu nhiệm HT như mặc khải trình bày cho ta:

a. Theo nghĩa rộng, HT là  tất cả nhân loại cần được cứu chuộc mà ĐK thâu nhận vào trong Ngài, gồm cả Đ.Maria vốn là con cháu Ađam-Eva, nên cũng thuộc về nhân loại, tuy trổi vượt bởi được ngừa trước khỏi nhiễm tội tổ truyền.

b. Theo nghĩa hẹp, HT được thu hẹp vào Dân riêng của TC ở CƯ, và chuyển thành Dân mới của TC ở TƯ, là cộng đoàn thiên sai mà ĐK là Đầu và Cứu Chúa. Th.Phaolô gọi HT này là Thân Mình ĐK, gồm Đầu và các chi thể.

Vậy ta thấy:

          Đ.Maria liên kết với cả hai dân: vì Người là thành phần Dân cũ, song là đóa hoa cuối cùng đã được tinh lọc tuyệt diệu của Israen, và Người cũng đã trở nên phần tử của Dân mới là HT, bởi vì Người được cứu chuộc trước tiên trong số những kẻ được cứu chuộc.

          Hơn nữa, Người còn có điều này mà HT chưa có, dù theo đạo lý của Th.Phaolô, HT là Hôn thê của CK (x. Ep 5.22-32), nhưng HT chưa đạt được sự kết hợp và thông hiệp tột đỉnh với CK, Phu quân của mình. Điều ấy dễ hiểu vì trong HT vẫn có những người có tội, từ tội tổ tông đến các tội mình làm, chẳng có ai trong HT đã đạt được sự tinh tuyền thánh thiện hoàn toàn. Chỉ có Đ.Maria đã đạt được sự tinh tuyền thánh thiện hoàn toàn ấy. Đó là điều Công Đồng Vat II đã nêu rõ: “GH, qua con người của ĐTN, đã đạt sự toàn thiện làm cho mình nên thanh sạch và vẹn tuyền” (HC GH, số 65), nghĩa là nơi con người Đ.Maria, HT đạt được cách cụ thể sự toàn thiện, xứng đáng là Hôn Thê của ĐK (Ep 5.27).

          Tuy nhiên, Đ.Maria vẫn là thành phần HT, đúng như Th.Aogutinô đã lưu ý: “Đ.Maria là một thành phần của HT, một chi thể thánh thiện, tuyệt hảo, trổi vượt, nhưng vẫn luôn là một chi thể của toàn thân vậy” (Sermo 25,7, PL 46,938). Công Đồng Vat II cũng nói: “Người được chào kính như chi thể tối cao và độc nhất vô nhị của GH” (HC GH, số 53).

          Qua những điều nói trên, Đức Maria vừa thuộc về cả hai dân vừa vượt trổi cả hai dân, bởi sự thánh thiện ngoại hạng, và nhất là bởi chức vị làm Mẹ Ngôi Lời Nhập Thể, là thân mẫu Đấng Thiên sai, đã sinh ra ĐK-Đầu – là Đấng đã thu họp cách tiềm tàng từ lúc Nhập thể, tất cả nhân loại sẽ được cứu chuộc và tất cả HT tương lai – cho nên Đ.Maria bao gồm nơi mình cách tiềm tàng cả hai dân, khiến Người có đủ tư cách để đại diện cho cả hai trước CK – là Đấng, bởi hiến tế mình, đã kết hợp hai dân ấy nên một trong thân mình Ngài (Ep 2.14,18; Col 2.14; 3.14-15).

 * * *

PHÁC THẢO MỘT VIỆC HÒA HỢP.

Sau khi đã trình bày hai đường hướng Kitô học và Giáo Hội học trên đây, bây giờ phải làm sao hòa hợp hai đường hướng ấy với qui chế của Th.Phaolô về ĐK là Đấng cứu chuộc và Trung Gian độc nhất?

Đó là công việc chúng ta phác thảo sau đây.

Muốn thế, cần phải nhìn nhận rõ hai phương diện này:

Phương diện thứ nhất: ĐK Cứu Thế tế lễ mình trên thập giá trước mặt TC Cha; Đ.Maria thông phần đau khổ với Ngài.

Phương diện thứ hai : Dưới chân thập giá, Đ.Maria là đại diện của nhân loại cần cứu chuộc trước mặt Đấng Cứu Thế.

1-     Phương diện thứ nhất: ĐK Cứu Thế tế lễ mình trên thập giá trước mặt TC Cha, còn Đ.Maria thông phần đau khổ với Ngài.

Trước khi đề cập đến việc tế lễ, phải nói đến việc Nhập thể, vì việc này nhắm mục đích thâu họp tất cả nhân loại cần cứu chuộc – kể cả Đ.Maria và Người trước hết – vào trong ĐK-Đầu duy nhất của nhân loại. Đạo lý “thu họp” này không phải do các Giáo phụ sáng chế, nhưng thuộc kho Mặc khải. Chính là Kế hoạch thi ân mà TC sẽ thực hiện lúc thời gian viên mãn :

“Thâu họp vạn vật dưới một đầu, một mối trong ĐK” (Ep 1.9-10).

Việc “thu họp” đó xảy ra thế nào ?

Khi xuống thế làm người, Ngôi Hai thâu nhận vào ngôi vị thần linh của mình (en sa personne divine) một nhân tính cá thể (une nature humaine individuelle) do Đ.Maria tạo nên bởi quyền năng Chúa Th.Thần, gồm có hồn và xác; có điều là khi nhân tính cá thể ấy được kết hiệp cách thực sự thành một thể (union hypostatique [1]) với Ngôi Hai, thì mất đi bản ngã nhân loại riêng (personnalité humaine) mà nhận lấy ngôi vị thần linh của Ngài (sa personne divine) làm chủ thể. Sách Giáo lý HT Công giáo, số 466, đã diễn tả điều ấy như thế này: “Nhân tính của Đức Kitô không có một chủ thể nào khác ngoài ngôi vị thần linh của Con Thiên Chúa, Đấng từ lúc tượng thai đã nhận lấy nhân tính ấy làm của mình.”[2]

Cha Y.Congar viết : “Lúc ấy, quả thật theo như truyền thống chung các Giáo phụ giải thích, thì Con Thiên Chúa đã cưới lấy” bản tính nhân loại, Ngài đã kết hiệp nó với mình thực sự. Từ đó, Ngài mang lấy bản tính nhân loại trong mình bằng một cách thật khó mà cắt nghĩa, nhưng lại rất thiết thực…” [3]

Mà bởi vì nhân tính ấy vốn liên đới với mọi người đồng loại khác, cho nên do năng lực thu hút vô biên của Ngôi vị thần linh Ngài, tất cả mọi người đồng loại ấy được tháp nhập vào thân Ngài, song một cách mầu nhiệm (mystérieusement). “Một cách mầu nhiệm” là có ý nói do quyền năng TC thực hiện. Sách Giáo Lý HT Công giáo, số 616, đã lột tả ý nghĩa của sự kiện ấy bằng một câu rất đơn giản: “Khi nhận lấy thể xác làm người trong lòng Đ.Maria, Ngôi Lời TC đã trở nên Đầu siêu nhiên của nòi giống nhân loại, không phải chỉ vì Ngài là phần tử cao quí nhất và xứng đáng nhất, mà còn vì Ngài đã chiếm hữu trọn cả dòng giống ấy và làm chủ họ hết thảy.”

KT thì nói một cách bình dân như thế này, ĐG là:

 Trưởng tử giữa mọi thụ tạo; Ngài là khởi nguyên, là Trưởng tử giữa các vong nhân”(Col 1.15,18; x. Hr 1.6)

9 TC cho ta được biết… kế hoạch yêu thương
Người đã định từ trước trong Đức Kitô.
10 Đó là….  quy tụ muôn loài trong trời đất

dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô…” (Ep 1.9-10)

Chính ĐG cũng đã xác nhận sự liên đới ấy với mọi người trong nhân loại:

“Quả thật Ta bảo các ngươi: những gì các ngươi đã làm cho một người trong các anh em hèn mọn nhất này của Ta, là các ngươi đã làm cho chính Ta.” (Mt 25.40) [4]

Nói tóm, chính bằng cách như thế mà những người thuộc cùng nòi giống, được lôi kéo và thâu nạp cách mầu nhiệm vào trong một bản ngã cao siêu hơn, làm chủ cả nòi giống, tức là trong bản ngã của CK-Đầu.

Việc thâu nạp này chỉ xảy ra có một lần độc nhất, tức là trong việc Nhập thể của Ngôi Hai TC, chứ không bao giờ có thể xảy ra như vậy được giữa loài người; bởi vì nơi loài người ai ai cũng bằng nhau, không ai có một bản ngã siêu việt hơn người khác, như trường hợp ĐG, bản ngã thần linh của Ngôi Hai siêu việt vô cùng.

Thế mà việc lạ lùng độc nhất ấy đã xảy ra trong lòng dạ Trinh Nữ Maria và với sự chấp thuận và cộng tác của Người. Chính lúc Ngôi Hai nhận được trong lòng dạ Đ.Maria cái nhân tính – nhờ nó, Ngài có thể thâu nạp cách mầu nhiệm cả dòng giống nhân loại nơi mình – thì Ngài đã thâu nạp và lôi kéo chính người Mẹ của Ngài trước tiên. Chính lúc Đ.Maria trở nên Mẹ của ĐK-Đầu, Mẹ đã bị lôi kéo vào trong Ngài cách khôn tả, như một phần tử cao quí nhất của cả Thân mình mầu nhiệm.

Vậy nếu trong Ngôi Hai Nhập thể, tất cả nhân loại cần cứu chuộc, và tất cả HT tương lai đã có mặt cách mầu nhiệm, thì Đ.Maria còn có mặt một cách trổi vượt hơn tất cả, hơn cả loài người, hơn cả HT nữa.

Lý do rất quan trọng của thâu nạp ấy là thế này:

Nếu Ngôi Hai Nhập thể đã thâu nạp nhân loại vào trong mình cách mầu nhiệm như thế, đó là vì công cuộc cứu chuộc đòi buộc không được để nhân loại ở ngoài Ngài, xa lạ với Ngài. “Vì – theo lời Th.Grêgôriô thành Nadiăng – cái gì không được thâu nhận vào (trong CK), cái đó không được cứu chuộc” (M. Schmaus, Sđd, Th.3, chương 4).

Vì vậy, đến giờ Ngài tế lễ hy sinh, với tư cách là Đầu, đồng bản tính với họ, Ngài mang họ trong mình, trong thể xác mình và treo lên Thập giá và chết đi.

24 “Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính. Vì Người phải mang những vết thương mà anh em đã được chữa lành.” (1Pr 2.24-25)

Sở dĩ trước tiên phải nói đến sự liên đới mầu nhiệm của ĐG với tất cả mọi người nhân loại, và đến việc thâu nạp họ vào trong mình Ngài như thế, là vì có liên đới như thế thì Ngài mới được danh chính ngôn thuận để chết đền tội thay cho họ, lúc ấy không ai còn dám nói : Ông là ai, có liên hệ gì với tôi, mà chết đền tội thay cho tôi?

“Chính Đức Giêsu Kitô là của lễ đền bù tội lỗi chúng ta, không những tội lỗi chúng ta mà thôi, nhưng còn tội lỗi cả thế gian nữa.” (1 Ga 2.2).

“Xưa kia anh em là những người xa lạ, là thù địch của Thiên Chúa vì những tư tưởng và hành động xấu xa của anh em. Nhưng nay nhờ cái chết nơi thân xác của Đức Giêsu, Thiên Chúa cho anh em được hoà giải với Người, để anh em trở nên thánh thiện tinh tuyền và không có gì đáng trách trước mặt Người.” (Cl 1.21-22)

Các lời KT ấy được các Giáo phụ lấy lại và khai thác:

Th.Irênêô nói: “Trong Ađam-mới, chúng ta được giao hòa (với TC) và trở thành những kẻ vâng phục cho đến chết” (Adv. Her. V, c.16; PG 7,1168).

Th.Lêô Cả cũng phát biểu : “Tất cả khối tín hữu đã cùng chịu đóng đinh với CK trong cuộc thương khó của Ngài” (Sermo 26,2; PL. 54, 213).

Sách Giáo Lý HT Công giáo, số 616 xác nhận: “Vì là Con TC, Đức Kitô vừa vượt trổi vừa đồng thời bao gồm mọi người và là Đầu toàn thể nhân loại, nên Ngài mới có thể dâng hy tế cứu chuộc mọi người.”

Để hiểu, chúng ta nên biết rằng bản tính nhân loại là nguyên lý hoạt động, nếu không có bản tính nhân loại thì các đau khổ, cái chết và sống lại của CK không có giá trị gì nữa: vì thế trong vườn Ghétsêmani, khi ĐG xin Cha cho khỏi uống chén đắng, là Ngài diễn tả nỗi khiếp sợ mà nhân tính của Ngài cảm nghiệm trước viễn ảnh cái chết khủng khiếp; song với ý chí nhân loại tự do và vì mến yêu (Ga 15.13), ĐG chấp nhận thánh Ý Chúa Cha (Mt 26.42), tự nguyện đón nhận cái chết, chính Ngài đã nói: “Mạng sống của Ta, không ai lấy đi được, nhưng chính Ta tự ý hy sinh mạng sống mình.” (Ga 10.18). Như thế mới cứu độ nhân loại được.

Trong giờ phút long trọng ấy, ĐK Thủ lãnh duy nhất của nhân loại, mang trong mình Ngài tất cả nhân loại, trong đó gồm cả Đ.Maria – và Đ.Maria trước hết – mà dâng lên TC Cha làm của lễ tế cứu độ. Như thế thì Đ.Maria không chỉ đã được lôi kéo và thâu nạp cách mầu nhiệm vào trong ĐG, Đầu Thân mình mầu nhiệm, cách khôn tả như một phần tử cao quí nhất, mà còn được bao gồm trong mầu nhiệm khổ nạn cứu chuộc của Con mình, được thừa hưởng trước và một cách đặc biệt ơn cứu chuộc của ĐGK hơn hết mọi người trong nhân loại, như đã nói ở chương bàn về ơn Vô nhiễm nguyên tội.

Đến đây, ta tới tâm điểm của vấn đề:

Đ.Maria sẽ chỉ là kẻ thừa hưởng thụ động ơn cứu chuộc đó, hay trái lại một khi được hưởng ơn cứu chuộc trước như thế, Người sẽ tham dự cách tích cực và hoạt động vào hành vi tế hiến của Con mình mà cứu nhân loại?

Cho dù dùng bất cứ giải đáp nào để làm sáng tỏ vấn đề, thì phải nhớ bảo vệ toàn vẹn tính cách độc nhất của công cuộc cứu chuộc của ĐGK.

Thế thì Đ.Maria chỉ có thể tham gia cách tích cực và hoạt động vào hành vi tế hiến cứu nhân loại của Con mình như sau: Lúc đứng bên thập giá, Đ.Maria tham gia tích cực hơn ai hết với Con mình là Đấng Cứu chuộc, bằng cách vẫn giữ trong mình lời Xin Vâng ngày xưa đón nhận Chúa Nhập thể cứu độ, lời Xin Vâng không bao giờ bị chối bỏ, luôn sống động trong trái tim Người, như Công Đồng Vat 2 nói: “Sự ưng thuận trong ngày truyền tin mà Người đã không ngần ngại giữ vững bên Thập giá” (HC GH, 62), giờ đây lời “Xin Vâng” ngày truyền tin ấy trở nên đau đớn hơn, biến thành “Xin Vâng” đồng thống khổ mà Đ.Maria thưa lên Chúa Cha, cũng như ĐK thưa lên Cha lời “Này Con đến…để thi hành ý muốn Người.” (Hr 10.7).

Nhưng bởi vì chỉ có lời: “Này Con đến để thi hành ý Cha” của ĐK là được đếm kể trước mặt Chúa Cha, như một lời Xin Vâng cứu độ, được thể hiện trong việc tự hiến mình làm tế vật đổ máu để cứu chuộc toàn cả nhân loại, (đã được thâu gọn trong Ngài là Đầu duy nhất), vì lẽ đó, trong ngày tử nạn này, lời “Xin Vâng” của Đ.Maria, hồi xưa tỏ ý đón nhận Chúa Nhập thể cứu độ và giờ đây tỏ ý đồng thống khổ, thì lời này đã được đảm nhận vào trong lời Xin Vâng tế hiến của ĐK-Đầu, Đấng Cứu chuộc độc nhất, và chỉ nhờ đó mà có giá trị [5].

Như thế, không có hai lời Xin Vâng đi song song, đồng hàng, đồng giá trị. Chỉ có một lời Xin Vâng của ĐK, Đấng Trung Gian độc nhất của ơn cứu rỗi, bao gồm cả lời Xin Vâng của Mẹ Ngài.

Ý kiến này được sự đồng thuận:

Thần học gia người Đức, Matthias Scheeben, cũng chấp nhận là có một hiệu lực cứu độ trong việc Đ.Maria cộng tác vào công cuộc cứu chuộc, song sở dĩ được như vậy là vì hoàn toàn nằm “ở trong tế lễ và bởi tế lễ” của ĐK, tế lễ này bao hàm lời Xin Vâng ưng thuận của Mẹ Ngài (Dogmatik, Freib., Brisg. 1882, T.3, 608).

Lm. Hurth làm sáng tỏ thêm quan điểm đang bàn bằng ý kiến này: “CG đã bao gồm Mẹ Ngài đang đứng bên thập giá vào hành vi tế hiến của mình, bằng cách đưa ý muốn của Mẹ vào ý muốn của mình, và trong ý muốn đó của Ngài, Ngài cho Mẹ tham dự vào công cuộc cứu chuộc: Đó là công cuộc Con thực hiện chứ không phải Mẹ, nhưng Con bao gồm ý muốn của Mẹ trong ý muốn mình.” [6]

Như thế kể là đã đủ song chưa hoàn toàn, cần biết rằng: ĐK đảm nhận sự đồng thống khổ của Đ.Maria (Compassion de Marie) không phải theo tư cách của một cá nhân, cho dẫu người đó là Mẹ Ngài, nhưng theo danh nghĩa đặc biệt này: Người đại diện nhân loại cần cứu rỗi trước mặt Ngài.trước mặt Chúa Cha, chỉ có ĐK-Đầu là Đấng duy nhất đại diện tất cả nhân loại cần cứu chuộc, kể cả Đ.Maria nữa: đây là dữ kiện KT không thể nào bỏ qua được.

Nếu như vậy, phải cầu viện đến bình diện GH học, để thấy rõ tư cách đại diện tất cả HT, tất cả nhân loại cần cứu chuộc của Đ.Maria trước mặt Đấng Cứu Thế.

Nhưng trước khi cứu xét vấn đề ấy, ta hãy tạm dừng đôi phút tham dự phụng vụ HT, ở đó HT mời ta chiêm ngắm việc Đ.Maria thông hiệp với cuộc khổ nạn ĐG.

 

*** ********************

Phụng vụ:

HT dành cả Tuần Thánh để cử hành Phụng vụ các mầu nhiệm khổ nạn của CK. Lòng đạo Kitô giáo không thể bỏ qua không nghĩ đến Đ.Maria, Mẹ ĐK, và liên kết Người với cuộc khổ nạn cứu chuộc của Con mình. Giáo hữu quen gọi Người là “Đức Mẹ Sầu bi”, hay “Đức Bà Bảy Sự” (mà nghệ thuật đã vẽ ra thành bảy lưỡi gươm đâm vào Trái tim Mẹ), và lễ Đức Mẹ Sầu bi được đặt vào chu kỳ phụng vụ, ngày 15-9, với lời nguyện:

“Lạy Chúa, Chúa đã muốn cho Đức Mẹ đồng lao cộng khổ đứng kề bên Con Chúa chịu treo trên thập giá, xin ban cho HT Chúa, khi đã cùng thông phần đau khổ của CK, thì cũng đáng được sống lại như Người.” (Lời nguyện nhập lễ).

Đến bài Ca Tiếp Liên “Stabat Mater” (“Mẹ đứng bên thập giá”) thường được đọc trong Thánh Lễ của Phụng vụ trước Công Đồng Vat 2, sẽ thấy mô tả, qua một thể văn bình dân đầy tâm tình, nỗi khổ đau của một người Mẹ ngắm nhìn Con Một của mình hấp hối và chết.

(Phần Chiêm ngắm):

    1. Mẹ Sầu bi đứng khóc bên Thập giá, nhìn xác Con treo.

    2. Lòng Mẹ rên rỉ, tủi sầu đớn đau, gươm nhọn đâm thâu.

3. Ôi thật thảm sầu, người Mẹ hồng phúc, Mẹ Con Một Chúa. […]

    5. Ai không nhỏ lệ, khi thấy Mẹ Chúa, đau khổ thảm sầu.

6. Ai không buồn sầu, khi ngắm Mẹ Chúa, đau khổ cùng Con.

    7. Mẹ thấy Con, chịu đòn vọt cực hình, vì tội của dân.

    8. Mẹ thấy Con, cô đơn hấp hối, thở hơi cuối cùng.

(Phần cầu nguyện):

9. Hỡi Mẹ! nguồn yêu, cho con cảm thấy khổ cực đớn đau, để khóc với Mẹ. 

    10. Cho lòng con cháy lửa tình yêu Chúa, để đẹp lòng Ngài.

    11. Mẹ ơi! Xin Mẹ ghi vào lòng con, năm vết thương Chúa.

    12. Xin Mẹ chia cho con, cực hình Con Mẹ, đã chịu vì con.

    13. Xin cho con khóc, cùng đau với Ngài, bao lâu con sống.

16. Xin cho con mang, cái chết của Chúa, cho con dự phần, vào vết thương Chúa.

17. Xin cho con mang, vết thương của Chúa, say mê Thập giá, và Máu Con Mẹ.

18. Xin đừng để con bị thiêu bị đốt, nhưng được Mẹ bênh, trong ngày phán xét.

19. Lạy CK, khi con lìa đời, nhờ Mẹ cho con về nơi vinh phúc.

20. Khi thân xác chết, cho linh hồn con được vào vinh quang, của chốn thiên đàng. Amen.

                                       (Trích sách Lễ “Hiện Tại”).

- Phụng vụ Bydăngtin của ngày Thứ sáu Thánh vang dội lời ca tụng Mẹ TC và xin Người bầu cử:

“Chúng con, những kẻ từ dân ngoại đến, chúng con ca tụng Người, hỡi Mẹ trong trắng của TC, vì Mẹ đã sinh hạ cho chúng con ĐK, TC chúng con, Đấng đã giải thoát loài người khỏi chúc dữ” (x. Mercenier, Sđd, 1948,177).

“Bởi chúng con không có phép nói với tất cả lòng trông cậy, vì cớ muôn ngàn tội lỗi chúng con, thì xin Mẹ hãy nài nẵng kêu van cùng Đấng đã sinh ra từ lòng Mẹ, hỡi Nữ Trinh Mẹ TC, vì lời cầu của một người Mẹ có quyền thế lắm để làm dịu cơn nghĩa nộ của Thầy Thánh. Xin đừng chê bỏ lời khẩn nguyện của các kẻ tội lỗi, hỡi Mẹ rất đáng tôn trọng, vì Đấng đã khấng chịu đau khổ trong thể xác vì chúng con, Ngài rất có lòng thương xót, có quyền cứu vớt” (Sđd, 177).

“Lạy CK, chính Mẹ Ngài mà chúng con tiến cử lên Chúa như vị Nữ Đại Sứ, hỡi vị Thầy đầy lòng từ bi, để Ngài ban ơn đại xá các tội cho tất cả những ai kêu lên với Ngài rằng: Lạy Chúa, xin nhớ đến tôi khi Ngài vào Nước của Ngài” (Sđd, 184).

Phụng vụ Bydăngtin nhìn ngắm sự đồng thống khổ của Đ.Maria dưới nhãn giới một cuộc sinh hạ đau đớn:

“Hôm nay, khi nhìn thấy Chúa bị đóng đinh vào Thập giá, ôi Ngôi Lời, thì ĐTN tinh tuyền vô phương trách cứ, đau đớn trong dạ từ mẫu: Người mang trong lòng một vết thương cay đắng. Người rên siết thảm thương từ thẳm sâu tâm hồn, kiệt sức trong những đau đớn mà trước kia lúc sinh (Chúa) Người không hề biết đến” (Sđd, 190).

Trong vài GH Sơ-la-vơ, Ca đoàn mô tả tâm tình chờ mong phục sinh của ĐTN ngay giữa các thống khổ:

“ĐTN khóc lóc và than rằng: Than ôi! Con Mẹ! Hỡi ôi, ánh sáng của Mẹ và Trái Tim của Mẹ! Điều ông Simêon tiên báo, hôm nay xảy ra: một lưỡi gươm đâm thâu lòng dạ Mẹ. Nhưng hỡi Con, hãy đổi nước mắt Mẹ thành hoan lạc bởi việc Phục Sinh của Con” (Sđd, 216).

Phụng Vụ ngày thứ bảy Thánh là cuộc suy niệm dài về việc CG được an táng và đợi giờ sống lại.

“Như hạt lúa vùi trong lòng đất, Chúa đã trổ sinh một dé lúa khi phục sinh các kẻ đã chết từ Ađam sinh ra” (Sđđ, 223).

“Lạy CK, Đấng sinh Chúa ra đời đã chảy suối lệ khi Chúa bị an táng trong mồ, song Người đã kêu lên: “Hỡi Con, hãy sống lại như lời Con đã báo!”

“Nhìn ngắm Chúa chết, Mẹ tinh toàn của Chúa khóc than cay đắng: “Hỡi sự sống, đừng còn nán lâu trong cõi kẻ chết!” “Hãy sống lại, Mẹ Chúa nói với Chúa, hỡi Đấng Tác sinh! Hãy mau sống lại đi, hỡi Ngôi Lời, để chấm dứt nỗi buồn đau của Đấng đã sinh Chúa ra đời cách đồng trinh.” (Sđd, 232-243).

 *****************************

 



[1]  Danh từ thần học gọi là “Ngôi hiệp”.

[2] Như thế, khi Nhập Thể, Ngôi Haimột Ngôi Vị gồm hai bản tính trong mình: thiên tính Ngài vốn có và nhân tính (bản tính nhân loại) do Mẹ (Maria) tạo nên bởi quyền năng Thánh Thần.

1- KT gán cho Ngôi Hai, là TC, những hành động và những tính tình của bản tính nhân loại, như việc sinh ra trên trần gian theo phần xác của ĐG (Rm 1.3; 9.5; Gl 3.16…);  đời sống con người (1Ga 1.1,2; Pl 2.7-8) ;  những đau khổ và cái chết (1 Ga 3.16; Cv 3.15; Mt 17.22-23); v.v… Hay nói cách khác, những cái đó được Ngôi vị TC của Ngài là chủ thể nhận lấy làm của mình. Vì vậy mà có thể nói: Thiên Chúa bị đóng đinh và chịu chết, tuy rằng cái phần bị đinh đâm vào là nhân tính (thân xác bị đâm, linh hồn nhân loại cảm thấy đau đớn, nhuốc nha), song Ngôi vị là Ngôi Hai, thì nhận lấy việc bị đóng đinh và chết kia làm của mình.

2- Ngược lại, KT cũng gán những đặc tính và những hành động của TC cho Giêsu, Con Người, những đặc tính của TC như sự hằng hữu (Ga 8.58; Hr 13.8); quyền năng và uy quyền thần linh (Ga 10.28tt; 5.17,21) v.v…

Các nhà thần học đã dùng một thuật ngữ chuyên môn “Truyền thông các đặc tính” (Communicatio idiomatum) để diễn tả trạng thái ấy (x. GLHTCG, số 466-470).

[3]   Vraie et fausse réforme… Paris, 1950, trang 95.

[4]   “Đừng hiểu lời trên đây như lời của một vị quan án… phán xét lạnh lùng (kẻ nào không yêu thương giúp đỡ người hèn mọn thì coi chừng bị án phạt vì đã không làm cho chính Đấng Phán xét mình), nhưng phải đón nhận lời ấy như phát xuất từ cái linh cảm trực giác sâu thẳm của tâm hồn CG liên đới với mọi người trong nhân loại, đến độ mang lấy số phận mọi người vào trong Ngài như thể làm cho chính mình Ngài…” (Cha Thuấn, “KT chuyên khoa”, tập 6, tr.776)

[5] Laurentin, Marie, l’Eglise et le Sacerdoce, Paris 1952,152

[6] De Cooperatione qualitificata…, Periodica… 38 (1949) 339.

Print In trang | sendtofriend Email | back Trở về
  
Tin/Bài khác
Kinh Do Một Đọc Giả Www.memaria.org Gửi Tặng (6/17/2021)
Tình Mẹ Còn Mãi, Lm Tạ Duy Tuyền (3/31/2021)
Đối Thoại Truyền Tin, Lm Giuse Nguyễn Hữu An (3/31/2021)
Cn 3982: Thiên Thần Tại Linh Địa Akita (1) (1/11/2018)
Cn 3922: Cuộc Hiện Ra Của Đức Bà Thành Công (our Lady Of Good Success) #2 (7/25/2017)
MeMaria.org -- Từ 15/4/1999 lần truy cập -- Kim Hà [Valid RSS]
Copyright © 2011 www.memaria.org. All Rights Reserved. Powered by VNVN System Inc.
Best view with IE 7.0, Fire Fox, resolution 1024x768