MeMaria.org
Radio Giờ Của Mẹ - Giờ Bình An - Giờ Tin Yêu - Giờ Hy Vọng
(714) 265-1512. Email: Kim Hà
banner
Google Search
memaria www  

Local Search
PayPal - The safer, easier way to pay online!
top menu :: mẹ maria
Thay đổi kích cỡ chữ đọc:
  
23- Các Mầu Nhiệm Đời Mẹ Maria --> Phần 2 -- Chương 1. Điểm Ii - Yếu Tố Thứ Nhì Trong Sứ Điệp Thiên Thần Đề Cập Đến Sự Trinh Khiết Của Đức Maria.
Chủ Nhật, Ngày 12 tháng 12-2021
ĐIỂM II - YẾU TỐ THỨ NHÌ TRONG SỨ ĐIỆP THIÊN THẦN ĐỀ CẬP ĐẾN SỰ TRINH KHIẾT CỦA ĐỨC MARIA.

         Đây là những dữ kiện:

         1) Ta phải nhận vấn đề trinh khiết của Đ.Maria là một khẳng định không những của Luca (Lc 1.27,34), mà còn của cả Matthêu nữa (Mt 1.18-25). Cả hai tác giả TM này đều không chứng minh sự kiện. Các ngài tiếp nhận từ truyền thống cái khẳng định này, như là một dữ kiện không thể chối cãi. Dữ kiện ấy, các ngài trình bày mỗi người một cách, không có dấu vết đã được hòa hợp với nhau (= hai truyền thống ấy độc lập).[1]

         2) Khẳng định này không bắt nguồn từ một động lực hộ giáo (= bênh vực đạo) để đối phó với người Do Thái, do nghĩ rằng họ chống lại việc thụ thai đồng trinh mà Công giáo tin. Không. Họ không chống, mà nói đúng hơn, việc thụ thai đồng trinh đối với họ không thành vấn đề, lý do là các kinh sư Do Thái đọc Isaia 7.14 theo bản Hipri, bản này không nhất thiết coi người phụ nữ sẽ sinh Emmanuen là một cô trinh nữ, mà chỉ có nghĩa là một người phụ nữ trẻ, hoặc là một người con gái đến tuổi lấy chồng ; có khi lại là một cung phi nào đó trong Hậu cung của vua Akhaz. Chỉ Kitô giáo chúng ta tin điều ấy, khi đọc KT theo bản dịch Hy Lạp 70, ở đây chữ “Almah” (tiếng Hípri) đã được dịch ra tiếng Hy Lạp là “Parthenos” đúng nghĩa là “trinh nữ” mà TM Mt chấp nhận và lấy lại (Mt 1.18-25).

         3) Bằng ba lần, Luca nói đến “tình trạng” trinh khiết của Đ.Maria đang sống vào lúc Truyền tin:

         Thiên sứ Gabrien được sai đến với một “trinh nữ” (1) đã “đính hôn” với Giuse (Lc 1.27), và tên “trinh nữ” (2) ấy là Maria. [2] Rồi chính Đ.Maria xác nhận là Người chưa biết đến

việc vợ chồng (Lc 1.34), tức là “còn trinh” (3), vì hiện tại tuy đã được gả cho Giuse, song hai ngài chưa chung sống.

         Tuy vậy, thiết tưởng điều cần lưu ý ở đây là: Đối với các trình thuật TM, đức đồng trinh cá nhân của Đ.Maria là điều thứ yếu. Phải hiểu rằng: theo não trạng người Do Thái, “đồng trinh” không phải là một nhân đức, mà là một sự nghèo nàn, bất lực còn hơn là “son sẻ” nữa (Is 3.25 – 4.1)… Mà son sẻ là hết dòng sự sống, chẳng khác gì như chết vậy, tên tuổi bị chặt đứt khỏi trần gian; vì trước khi ĐG đến, người Do Thái chưa được mặc khải về “đời sau”, cho nên mọi hy vọng của họ là ở trần gian này, và phần thưởng của họ là được Chúa ban giàu có và có dòng dõi nối tiếp mãi trên trần gian…

         Nhưng TC lại yêu riêng sự hèn yếu, bất lực (1Cr 1.27t), cho nên từ đó nảy ra điều ngược tự nhiên của kế hoạch TC mà Th.Phaolô tỏ bày trong 2Cr 12.9: “Quyền năng được thi thố trọn vẹn trong sự yếu đuối.” Vậy đồng trinh của Đ.Maria là yếu đuối, bất lực, nhưng từ cái bất lực ấy đã được mãnh lực Thần khí đến gầy dựng nên tạo thành mới, với sự xuất hiện của ĐG, đó là điều Thiên sứ báo sẽ xảy ra: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, trẻ sắp sinh ra sẽ được gọi là Đấng Thánh, là Con Thiên Chúa.” (Lc 1.35)

         Nếu đối với trình thuật TM, đức đồng trinh cá nhân của Đ.Maria là điều thứ yếu, thì điều thiết yếu hơn đó là việc Đ.Maria thụ thai ĐG một cách đồng trinh (viết tắt :“trinh thai”), tức là chứng tỏ tính cách siêu phàm, thần thiêng của việc thụ thai đó, nghĩa là Thần khí Quyền năng TC là nguyên nhân chính, là tác giả chính của việc thụ thai kia.

         4) Nhưng khi nghe Thiên thần nói : ‘Đavít Cha Ngài’ làm cho Maria phải thắc mắc, ngờ rằng Thiên thần báo một việc thụ thai theo lối tự nhiên…. Do đó Người mới ngỏ nỗi thắc mắc ra với Thiên thần : “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng !” (Lc 1.34). Đây không phải là một khước từ đề nghị của TC, nhưng là một câu hỏi về cách thức phải làm thế nào, có thế thôi, [3] thật đơn giản và rõ ràng, “câu hỏi… của một lòng tin tìm kiếm sự soi sáng” (TOB); và câu hỏi này đã đưa đường cho Thiên thần bày tỏ cách minh bạch: việc thụ thai đồng trinh là do quyền phép Thánh Thần tác động (c.35).

         Nhưng không phải ai cũng hiểu như thế, do đó mới nảy ra vấn đề Maria có muốn (hay khấn) giữ mình đồng trinh không?

         -------------------------------

         Vấn đề Maria muốn (hay khấn) giữ mình đồng trinh

         Vấn đề này đã làm tốn không biết bao nhiêu giấy mực. Hãy xem lại trình thuật Truyền tin của Luca 1.26-38: Khi Maria nghe Thiên sứ báo cho mình sẽ thụ thai (c.31), Người tưởng việc đó sẽ làm theo thói thường tình, cần một người nam tham dự, nên Maria nói: “Việc vợ chồng tôi không biết đến” (c.34) mà dịch sát mặt chữ KT là“tôi không biết đến người nam”, “biết” có nghĩa là vợ chồng giao hợp (x. Kn 4.1,17,25; 19.8; 24.16, v.v…), qua đó ĐTN quả quyết một sự kiện là không có việc gối chăn với người nam [4] (với Giuse). Vậy thì hỏi rằng câu nói ấy có bộc lộ một ý muốn (hay khấn) giữ mình đồng trinh không?

          1/ Giải đáp cổ điển.

         Trả lời : Có. Chung chung giải đáp cổ điển đã trở thành phổ biến trong GH Công giáo qua nhiều thế kỷ. Thời xưa, để bảo vệ quan điểm cổ điển này, tác giả sách Nguỵ thư Tiền TM Giacôbê (9.2) đã mô tả Th.Giuse là một ông già goá vợ : "Tôi đã có mấy người con và đã già, còn cô ấy là một thiếu nữ" [5]. 

         Ngày nay, cũng có một số tác giả Công giáo nhận giải đáp cổ điển ấy (chẳng hạn cha René Laurentin, nhà Thánh mẫu học danh tiếng): Ý muốn (hay khấn) giữ mình đồng trinh là có nền tảng (sđd, 179 và ghi chú). Nhưng theo cha P.Benoit, quan điểm này ngày càng bị các nhà chú giải Công giáo La Mã bãi bỏ. (Revue Biblique, số 65, năm 1958, tr.431).

         Có những học giả Công giáo La Mã khác chống đỡ quan điểm cổ điển trên, nhờ căn cứ vào các văn kiện được phát hiện mới đây (từ 1947…) tại Biển Chết, trong đó thấy nói, ở thế kỷ II trước C.Ng., có một giáo phái người Do Thái, gọi là các ẩn sĩ Essêni, đã sống độc thân.  

         Thực tế là thế nào ?

         - Các văn kiện ấy nói rất ít về vấn đề đó, chung qui chúng ta biết là nhờ những lời của các ông Flavius Gioseph, Philô và Plinius mô tả về lối sống độc thân của nhóm ấy. […]

         - Và đàng khác có lẽ việc sống độc thân ấy chỉ là tạm thời, vì cộng đoàn cần phải duy trì dòng dõi tư tế Sađốc bằng cách sinh con cái. Chưa kể có những tác giả còn đặt nghi vấn về sự kiện sống độc thân ấy, vì thấy ở khu vực cộng đồng các nhóm ấy lại có những nấm mồ phụ nữ và trẻ con. [6]

         - Vả lại, sự kiện sống độc thân được thực hành do lòng đạo đức và theo kiểu tu hành trong một cộng đoàn tu đức khổ hạnh như thế làm sao lại có thể đem ra áp dụng cho một cô gái trẻ tuổi làng quê bước vào hôn nhân ? Quả thật là kỳ cục.

         Cũng để bảo vệ quan điểm cổ điển này, có một số tác giả nữa [7] trưng ra bằng chứng: có một trào lưu ở thời ĐG, “đã nhận thức rất sâu xa về sự tiết dục…” đó là nhóm phụ nữ Thérapeutes ở bên Ai Cập sống đồng trinh độc thân suốt đời.

- Nhưng thử hỏi một trào lưu như thế với những tập tục xã hội và tôn giáo xa xôi tận mãi bên Ai Cập ngoại giáo, hoàn toàn xa lạ với tập tục và tôn giáo Do Thái dân riêng của TC, thì làm sao có thể ảnh hưởng hay chi phối cuộc đời những người phụ nữ Israen được ?

·    Các nhà thần học, tu đức Công giáo cách riêng thời xưa – vì quá ước muốn đề cao đức đồng trinh của Đ.Maria, - và biết đâu cũng muốn nâng cao giá trị cũng như củng cố nếp sống độc thân của mình – khiến họ cố quyết phải bảo vệ và đề cao đức đồng trinh của Đ.Maria với bất cứ giá nào – nên đã cắt nghĩa câu hỏi của Đ.Maria như là lời khấn giữ trinh khiết trọn đời.

Những trào lưu đề cao đức đồng trinh của Đ.Maria như thế phần lớn diễn ra ở bên Tây phương, nơi người ta chú trọng nhiều đến chủ nghĩa cá nhân, chủ trương nam nữ bình quyền, nhưng không biết hay không đếm kể đến các luật lệ, phong tục và tập quán của dân Do Thái, vốn ràng buộc gò bó cách riêng những gì liên quan đến giới phụ nữ, nên họ đã suy nghĩ theo quan điểm người phương Tây.

Trong dân Do Thái, phong tục tập quán rất khác, tất cả đều hướng vọng về Đấng Mêssia, cách riêng những người trong dòng họ vua Đavít, được những lời tiên tri tiên báo là từ họ sẽ xuất ra Đấng ấy (mà Đ.Maria có thể là người thuộc dòng họ này), thì không thể nào lại dại dột giữ mình đồng trinh mà từ bỏ vinh dự và nhiệm vụ thiêng liêng ấy được.

         F.M.Willam, khảo sát phong tục Do Thái kỹ lưỡng, đã trình bày rõ ràng hơn:

         “Trong dân Israen,…việc lập gia đình không còn là chuyện cá nhân không liên hệ đến ai. Bước vào hôn nhân, người ta đảm trách một nhiệm vụ tôn giáo và dân tộc: nhiệm vụ lưu truyền nòi giống cho đến kỳ Đấng Thiên Sai đã hứa trong KT đến. Trong viễn tượng ấy, việc vô sinh (giữ mình đồng trinh là vô sinh) không chỉ là một khuyết tật thể xác, nhưng là khiếm khuyết về mặt tôn giáo và đạo đức, đó là dấu TC đã loại người đó ra khỏi kế hoạch của Người: người ấy vì không có con, thì như đã ngừng bước, không thể đón Đấng Cứu Thế qua con cháu mình nữa.” ( “La Vie de Marie…”, tr.34).

         Nói nặng hơn, đó là một dấu không được TC chúc phúc, và là một sự tủi hổ không những về mặt đạo mà cả về mặt đời, vì theo quan niệm thời xưa, người đàn bà không sinh con thì như “cây độc không sinh trái, gái độc không sinh con”. Bà Elidabét vợ ông Dakarya, sau khi được có thai lúc tuổi già, đã vui sướng thốt lên: “Ấy Chúa đã làm cho tôi điều ấy, đã cất nỗi hổ nhục của tôi giữa người đời!” (Lc 1.24-25).

         Chính Th.Tôma Tiến sĩ HT, cũng viết: “Dưới chế độ luật cũ, không ai được miễn nhiệm vụ sinh sản…; do đó có thể tin là Mẹ TC, trước khi đính hôn với Giuse, đã không làm một lời khấn giữ mình đồng trinh, mặc dầu Người cảm thấy muốn làm. Ý muốn của Người, Người đặt vào trong ý muốn TC (Chúa muốn sao thì Người sẽ làm như vậy). Nhưng sau này, khi Maria đã (được Giuse rước) về chung sống, thì cả hai đồng lòng giữ trinh khiết”. (Trích “Để làm giàu…”, t.V, bài 425).

Cha R.E.Brown còn nói mạnh hơn : "Không những một lời khấn hay một chủ ý giữ sự đồng trinh làm cho câu hỏi của Đ.Maria (ở Lc 1.34) thành khó hiểu, mà còn không có thể chấp nhận được trong hoàn cảnh xã hội lúc vị Thánh sử Luca viết trình thuật này”, vì không có một tục lệ nào và định chế xã hội nào của người Do Thái bảo vệ cho quyết định sống đồng trinh như thế.

M.Bobichon cũng cùng một nhận xét : “Dường như thời ấy không có những thể chế xã hội bảo vệ cho một quyết định sống đồng trinh… vì lẽ đó, đối với (những con người bình dân như) Maria và Giuse, một quyết định đi ngược như thế ít ra vẫn là bất thường”… (Sđd, 49t).

Rốt cuộc, chúng ta phải nhìn nhận rằng: Quan niệm giữ mình đồng trinh hay độc thân là một quan niệm xuất phát từ Kitô giáo, với sự xuất hiện của ĐG Đấng Thiên sai, khi ấy một THỰC TẠI MỚI TUYỆT ĐỐI : NƯỚC TRỜI đã đến. Trước Nước Trời, tất cả mọi sự khác đều phải nhường bước : phải từ bỏ cha mẹ vợ con, nhà cửa ruộng vườn, tiền bạc của cải…; phải sẵn sàng hi sinh cả mạng sống mình (Mt 10.37-39; Lc 14.25-27; 18.29-30). Do đó giữ mình đồng trinh hay sống độc thân là vì Nước Trời (Mt 19.12; 1 Cr 7.32-35).

         Bởi vậy, xét về nguồn gốc chúng ta thấy việc giữ mình đồng trinh hay sống độc thân chỉ được thịnh hành trong Kitô giáo thời sau, khi họ biết về việc thụ thai và sinh đẻ đồng trinh của Đ.Maria được coi như lối sống lý tưởng; rồi gương của ĐG và Phaolô là những người sống độc thân, từ đó đã dẫn đưa giới Kitô giáo đến việc đề cao lối sống độc thân, và điều ấy hẳn đưa đến hậu quả là cách thức đến trần gian qua ngả sinh đẻ thông thường, bị hạ thấp.

         Cha R.E.Brown còn cho biết chính xác hơn:  Xét theo mặt lịch sử, “Quan điểm cổ truyền (giữ mình đồng trinh) nói trên phát triển vào thời kỳ sau khi đạo Chúa được chấp nhận trong đế quốc La Mã, bởi sắc dụ Milanô (năm 311) của hoàng đế Constantinô. Lúc này không còn bắt đạo và không còn các cuộc tử đạo nữa, cho nên lối sống tu hành được đem thay thế như là một cách đạt sự thánh thiện ; thế là các phụ nữ Kitô giáo đua nhau bước vào lối sống tu hành để sống cuộc đời độc thân.

         “Và theo hướng đó, người ta đã nghĩ Đ.Maria cũng đã khấn đức đồng trinh như thể Người là một nữ tu. Chứng từ cổ xưa nhất về quan điểm lời khấn đồng trinh này được tìm thấy bên Đông phương trong sách của Giáo phụ Grêgôriô thành Nissa, năm 386 (PG 1140 D-1141A), rồi đã được truyền sang phương Tây bởi Th.Ambrôxiô và Aogutinô, và từ đó trở thành quan điểm cổ điển phổ thông trong GH Công giáo." (The Birth…, tr.304-05).

         Xu hướng mê thích đức đồng trinh càng ngày càng mạnh nơi các tu sĩ và nơi vài nhóm khổ tu từ thế kỷ thứ 4. Các nhà tu hành và chế dục đó, đã rao giảng và tuyên truyền sự trổi trang của đức trinh khiết đôi khi quá trớn, đến độ kết án hôn nhân và sự sinh sản.

            Không kể những điều quá đáng ấy, thì vẫn phải nhìn nhận rằng trong tư tưởng Kitô giáo, đôi khi hai ý tưởng về thanh sạch mặt dục tính và về sự thánh thiện được nối kết với nhau: Nhiều vị giảng thuyết vẫn coi điều răn thứ sáu là điều răn nghịch với sự thánh thiện hơn cả, chứ không phải điều răn lỗi bác ái! Nhiều cách nói vẫn còn coi việc sinh hoạt vợ chồng như là một sự gì ô uế. Có lúc, có vị khuyên vợ chồng muốn đi rước lễ, phải kiêng cữ ăn ở với nhau 3 ngày trước. Và có những vợ chồng không dám lên rước Mình Thánh Chúa, bỏ xưng tội, rước lễ mùa phục sinh… chỉ vì mới cưới nhau, đêm trước đã làm chuyện vợ chồng bậy bạ!

***      

         2/  Giải đáp ngày nay cho câu hỏi nêu trên 

Để giải đáp câu hỏi đặt ra trên kia : “Có chủ ý muốn (khấn hay) giữ mình đồng trinh không?” Đại đa số các nhà chú giải ngày nay (x. BJ2, TOB v.v..) cho rằng qua câu nói đó Maria không có ý bảo: “Không thể có chuyện thụ thai đó được, vì tôi đã khấn giữ mình đồng trinh”. Mà đây Maria chỉ có ý nói về một tình trạng cụ thể là hiện thời Người không có quan hệ vợ chồng với người nam, vì thế Người hỏi cách thức phải làm thế nào để thực hiện lời Thần sứ truyền bảo.

 Bản dịch KT Đại Kết (TOB, 1973) ở ghi chú j, tr.192 viết: “Người ta cho rằng nơi Đ.Maria có một ý muốn giữ mình đồng trinh (như thế câu nói của Đ.Maria có nghĩa là: Tôi không muốn biết đến người nam). Nhưng “thì hiện tại” của động từ cho thấy một tình trạng, chứ không phải một ý định”.

         Bản dịch KT của Trường Kinh Thánh Giêrusalem cũng giải thích như vậy: “Không có gì trong bản văn đòi buộc phải nghĩ về lời khấn trinh khiết” (B.J. 1973, note j).

         Và M.Bobichon kết luận: “Ngày nay, người ta thường nghĩ rằng Maria và Giuse có ý kết hôn như bao đôi bạn khác; vì thế,… hai ngài chấp nhận ý muốn đó theo cách suy nghĩ thông thường và phong tục trong dân Israen.[8] Các ngài phó mặc tương lai cho TC là Đấng làm nên những điều kỳ diệu…” (x. St 18.14). Và quả thật, TC đã ra tay hành động!

         Tựu trung, chúng ta có thể hiểu vấn đề đồng trinh của Đ.Maria như sau:

Maria không có lời khấn giữ mình đồng trinh. 

   Tuy rằng nếu đi sâu vào tâm hồn ĐTN Maria, có thể nghĩ: do sự thôi thúc của ân sủng Vô nhiễm nguyên tội từ lúc đầu thai, Người rất “mong muốn” sống trọn đời đồng trinh, khao khát sống trọn vẹn chỉ thuộc về một mình TC. Nhưng nếu Thánh Ý TC muốn cho Người sống bậc hôn nhân như tập tục thường lệ trong dân tộc, Maria cũng xin vâng và hoàn toàn phó thác cho TC. Đó mới thật là trọn vẹn vâng phục. Thánh ý TC mới quan trọng chứ không phải nhân đức của loài người.

Không thể nào tưởng tượng được rằng Đ.Maria, một tâm hồn đã được TC bồi đắp đặc ơn vô nhiễm nguyên tội – cũng như biết bao đặc ơn khác, tuy lúc ấy Người có thể chưa ý thức được mình có ơn ấy – khiến Người luôn chỉ hướng về TC như la bàn luôn hướng về phía Bắc, và luôn sẵn sàng tuân phục TC trong bất cứ điều gì, lại dám khư khư ôm chặt một lời khấn giữ “sự đồng trinh” của mình mà từ chối một đề nghị của TC : "Chuyện Thiên thần nói sẽ không thể được, vì tôi đã khấn giữ mình đống trinh!"

Phải "Chữ trinh đáng giá ngàn vàng", nhưng đó là trước mặt thế gian, còn trước mặt TC, sự đồng trinh là cái gì, đáng quí đến mức nào để Maria có thể, vì muốn giữ được nó, mà cả gan từ chối cộng tác vào chương trình vĩ đại cứu rỗi thế gian của TC?

         Nhớ gương Abraham: Chính đứa “con trai độc nhất” nối dòng nối giống mà ông cũng đành hi sinh theo lệnh TC, huống nữa là cái chữ trinh của một cô con gái ! Giả sử Abraham từ chối không hi sinh Isaác theo lệnh TC bảo thì sao ? Được thôi ! Ông sẽ giữ được đứa con, rồi ông già và chết, đứa con của ông cũng chỉ là một người bình thường, lớn lên lập gia đình, sinh con đẻ cái rồi chết như bao người bình thường khác, tên tuổi chẳng ai nhớ đến, còn ông sẽ không được những lời hứa vĩ đại sau đó của TC phán với ông vì đã thuận theo lời Người:

“Bây giờ, Ta biết ngươi là kẻ kính sợ TC: con một ngươi, ngươi đã không từ chối với Ta…. Ta lấy mình Ta, Ta thề, vì ngươi đã không từ chối con một ngươi với Ta, thì Ta sẽ ban chúc lành cho ngươi, Ta sẽ làm cho dòng giống ngươi nên đông như sao trên trời, như cát bãi biển… Mọi dân thiên hạ sẽ lấy danh dòng giống ngươi mà cầu phúc cho nhau, bởi vì ngươi đã vâng nghe tiếng Ta.” (St 22.12-18).

   Cũng vậy, giả sử Maria vì muốn giữ sự đồng trinh của mình, không chấp nhận lời sứ giả TC đề nghị, thì cũng giống như thế thôi…: Người sẽ giữ lấy sự đồng trinh ấy, rồi sống bình thường như bao cô gái vô danh khác trong dân Israen, và rồi chết chôn trong một nấm mồ, chẳng cống hiến gì cho nhân loại, chẳng ai còn nhắc đến… Trái lại, chính vì Người “vâng nghe tiếng của TC”, không từ chối bất cứ sự gì với TC, liều mình dấn thân cộng tác vào chương trình của TC, thì Maria sẽ không thể ngờ rằng TC sẽ làm cho Người nên vinh hiển và “Từ đây, muôn đời sẽ khen tôi có phúc” (Lc 1.48), đàng khác, TC sẽ lèo lái thế nào đó để Người vẫn có thể làm vợ và làm Mẹ mà vẫn giữ được đồng trinh vẹn toàn.

         Thật vậy, Thiên sứ bảo đảm rằng Chúa Thánh Thần sẽ can thiệp cách lạ lùng, để bảo vệ sự đồng trinh của Maria trong việc thụ thai Đấng Cứu Thế:

“Thánh Thần sẽ đến trên Người, và quyền năng Đấng Tối Cao trên Người rợp bóng; bởi thế mà trẻ sắp sinh sẽ được gọi là thánh, là Con TC!” (Lc 1.35)

         Lời Thiên sứ nói “rợp bóng” có nghĩa thế nào ?

         Phải nhớ đến Xh 40.34-35: “Đám mây che phủ Lều Hội Ngộ, và vinh quang ĐỨC CHÚA đầy tràn Nhà Tạm. 35 Ông Mô-sê không thể vào Lều Hội Ngộ vì đám mây đậu trên đó, và vinh quang ĐỨC CHÚA đầy tràn Nhà Tạm.” Mây che phủ Nhà Tạm trong hoang địa chỉ về sự hiện diện vinh quang của TC. Áp dụng vào cảnh truyền tin, ý muốn nói sự hiện diện vinh quang của TC đáp xuống bao phủ Maria, nay đã nên như Nhà Tạm bởi quyền năng sáng tạo của Ngài.

         Hoặc cũng có thể hiểu câu “Quyền năng Đấng Tối Cao trên người rợp bóng” bằng hình ảnh con chim thần linh (biểu tượng về Thần khí TC) dương cánh bao phủ để tạo nên sự sống trên địa cầu (x. St 1.2), qua câu đó Thiên sứ muốn bảo: Thần Khí sắp đóng vai trò nguyên lý sáng tạo và phát sinh sự sống trong lòng Đ.Maria (ABD, III, 277; IV, 585). Cha G.Thuấn cho hiểu ý nghĩa cao sâu ấy: “Đó là chứng chỉ báo Thời sẽ đến đã xuất hiện, thời (mà mọi sự) hoàn toàn ở dưới (sự điều động của) mãnh lực của Thần khí (1Cr 15.44-49).” [9]

         Câu nói đây của Thiên sứ chẳng có vẻ gì là đưa về một hình ảnh chướng tai gai mắt thường thấy mô tả trong các cuộc "phối ngẫu thần minh" trong thần thoại ngoại giáo, ở đó một ông thần xuống "ăn nằm" với một phụ nữ trần gian và sinh con. Còn ở câu Luca đây, hết thảy đều vô cùng tế nhị và hoàn toàn nằm trong chiều hướng thanh cao của KT. Nếu chúng ta đem so sánh với 1Sm 16.13 : "Và Thần khí đã đáp xuống Đavít"; với Is 32.15 : "Cho đến khi Thần khí từ trên cao đổ xuống trên ta"; và Cv 1.8: "Anh em sẽ chịu lấy quyền lực Thánh thần đến trên anh em", thì qua những câu tương đương ấy cho thấy rõ không có nghĩa dục tính gì ở đây (R.Brown, The Birth…, 290). ABD, IV, 585 cũng viết: “Câu Thánh Thần rợp bóng” (c.35) là một ngôn ngữ hình ảnh, mô tả hoạt động sáng tạo của TC, để cho thấy trong việc ấy không có việc phối hợp vợ chồng bình thường."

         Đ.Maria, sau khi được nghe Thiên sứ giải thích thỏa đáng, giải tỏa mọi thắc mắc, đã thưa “Fiat”, “Xin thành sự nơi tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1.38), và để mặc TC hành động theo ý muốn của Người.

***



[1] Có ý kiến còn dựa vào một truyền thống cố cựu mà bảo ngoài hai TM Mt và Lc, thì TM Ga 1.13 cũng có một ám chỉ về việc thụ thai đồng trinh. Thay vì như hiện nay ta đọc là “Họ (những ai tin) được sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa”,  thì bản văn cổ ấy lại sửa đổi thành : “Ngài (ĐG) được sinh ra v.v…” Bản văn bị sửa đổi này được phổ biến vào khoảng thế kỷ II, nhưng rồi sau cũng nhanh chóng không còn được lưu hành nữa.

[2]      Mời xem H.M.Tuấn, Đọc TM Thánh Matthêu, Tập I, Tuổi thơ lận đận, 1.18 và 23 cắt nghĩa đầy đủ chữ “Đính hôn” và “Trinh nữ”. Đây nói sơ qua. “Đính hôn” tức là “gả” cho Giuse, chứ không phải chỉ là một “hứa hôn” như phong tục thời nay của chúng ta, cho nên trước mặt luật pháp Do thái, hai người đã thành vợ chồng thực thụ rồi, với đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ theo luật pháp. Chỉ có điều hai vợ chồng chưa về chung sống (Lc 1.34; Mt 1.20). Như vậy, sự đồng trinh của Đ.Maria về phương diện sinh lý là điều được nhấn mạnh, để sấm ngôn Is 7.14 được thực hiện như Mt 1.18-25 đã nêu ra, khi dựa vào bản Is 7.14 Hy Lạp, vì bản này dùng chữ “parthênos” “Trinh nữ”, là có ý nhấn đến tính cách còn trinh của cô gái.

[3]   Chúng ta có nghe lời thắc mắc tương tự của ông Dakarya, cha của Gioan Tẩy Giả (Lc 1.18), đáp lại lời Thiên thần Chúa báo ông sẽ có con, ông nói : "Sự ấy làm sao tôi biết được ? vì tôi đã già rồi và vợ tôi đã cao niên". Hai lời thắc mắc hầu tương đương, thế mà một thì bị quở trách còn bên kia thì không, tại sao ? Có lẽ vị Thiên thần thấy trong hai câu thắc mắc tương đương ấy, một bên thì ông Dakarya có ẩn ý nghi hoặc nên bị phạt câm: "Ngươi sẽ phải làm thinh (câm) không thể nói được nữa, cho đến ngày các điều (tiên báo) ấy xảy ra, vì lẽ ngươi đã không tin các lời của ta" (c.20). Còn bên kia, Đ.Maria, có ý hỏi về cách thức làm sao.         

[4]    "Người nam" ở bản văn, Luca dùng chữ "anêr" để chỉ về người chồng, chứ không phải chữ "anthrôpos" chỉ đàn ông cách chung. (R.Brown, The Birth.., 289).

[5] Có lẽ vịn vào câu nói đó, hồi trước người ta thường tạc tượng hay vẽ hình Th.Giuse là một ông già, râu bạc phơ, tay cầm một nhành hoa huệ tượng trưng sự khiết tịnh, đứng bên cạnh một thiếu nữ trẻ khiến người ta tưởng là hai ông cháu, chứ không phải là hai vợ chồng.

[6]   Mời xem quyển: “Ai đã viết các cuốn Bản thảo ở Biển chết” của Norman Golb, biên dịch Đỗ Văn Thuấn, Nxb. Từ Điển Bách Khoa, Hà Nội, 2006, tr. 12-14,27-30,100-102,175

[7]   Philô : De vita contemplativa 68,155. Và một tài liệu mới đây: Đức Giêsu Ngày Nay, Các bài nói truyện trên đài phát thanh Canada 1977-1978, tr.103-104, cũng nêu ra sự kiện này.

[8]  Mà F.M. Willam đã trình bày trên đây.

[9] Trích “KT chuyên khoa”, Tập 5, tr.92

Print In trang | sendtofriend Email | back Trở về
  
Tin/Bài khác
Kinh Do Một Đọc Giả Www.memaria.org Gửi Tặng (6/17/2021)
Tình Mẹ Còn Mãi, Lm Tạ Duy Tuyền (3/31/2021)
Đối Thoại Truyền Tin, Lm Giuse Nguyễn Hữu An (3/31/2021)
Cn 3982: Thiên Thần Tại Linh Địa Akita (1) (1/11/2018)
Cn 3922: Cuộc Hiện Ra Của Đức Bà Thành Công (our Lady Of Good Success) #2 (7/25/2017)
MeMaria.org -- Từ 15/4/1999 lần truy cập -- Kim Hà [Valid RSS]
Copyright © 2011 www.memaria.org. All Rights Reserved. Powered by VNVN System Inc.
Best view with IE 7.0, Fire Fox, resolution 1024x768