MeMaria.org
Radio Giờ Của Mẹ - Giờ Bình An - Giờ Tin Yêu - Giờ Hy Vọng
(714) 265-1512. Email: Kim Hà
banner
Google Search
memaria www  

Local Search
PayPal - The safer, easier way to pay online!
top menu :: mẹ maria
Thay đổi kích cỡ chữ đọc:
  
03- Các Mầu Nhiệm Đời Mẹ Maria --> Hướng Đi...
Thứ Tư, Ngày 8 tháng 12-2021
Hướng Đi...

Nhìn tít đề CÁC MẦU NHIỆM ĐỜI MẸ MARIA, có người cho rằng đây lại là một cuốn sách đề cao Đức Maria lên ngang hàng với Thiên Chúa (TC), tạo ra một thứ “Nữ Thần” bên cạnh TC độc nhất, gây một phong trào sùng bái “Thần tượng” hay “Siêu sao Maria”. Trái với ngộ nhận trên, tít đề ấy chỉ muốn gióng lên một tiếng: COI CHỪNG ! vì Đ.Maria là một “Mầu nhiệm” nên cẩn thận tìm hiểu kẻo dễ gây ra hiểu lầm.

Quả thật, trong lịch sử Kitô giáo đã xảy ra việc đáng tiếc ấy: Thái độ của con người trước vấn đề Đ.Maria rất trái ngược nhau. Có người tôn sùng cách nhiệt tâm, say sưa, có khi còn tâng bốc lên ; người khác chỉ cần nghe đến tên Maria liền tỏ thái độ cự tuyệt, vì e ngại vai trò trung gian tuyệt đối của Đức Giêsu Kitô bị lấn lướt làm lu mờ… Đang khi đó, để phản ứng chống lại một kiểu sùng kính Đức Mẹ có mầu tình cảm (?), hình như có một trào lưu do một số nhà thần học và nhà giảng thuyết Công giáo khởi xướng, chủ trương càng ngày bớt nói đến Đ.Maria, càng giảm việc làm cho người ta hiểu biết và yêu mến Người.

May thay! Đã có một sự điều chỉnh chính thức và uy tín từ Giáo huấn quyền, đó là Hiến chế “Ánh sáng muôn dân” của Công Đồng Vat. 2, đã dành cả một chương VIII để nói về “Đức Trinh Nữ Maria (ĐTN), Mẹ Thiên Chúa (TC) trong mầu nhiệm Chúa Kitô (CK) và Giáo Hội (GH)”.

Vậy nếu ĐTN Maria ở trong mầu nhiệm Thiên Chúa như trên vừa nói, thì chẳng khác gì nói Đ.Maria cũng là một mầu nhiệm, nên cần học hỏi, đào sâu, khám phá, vậy đâu có phải do quá sùng thượng Đ.Maria nên mới bày ra một môn thần học về Thánh Mẫu? 

Huống chi, một khi chính TC đã đích thân trở thành con người bởi việc Nhập Thể, và TC đã muốn rằng ơn cứu độ Người thực hiện nơi chúng ta phải được thực hiện qua trung gian của một con người, đúng như Th.Phaolô viết:  “Thật vậy, chỉ có một TC, chỉ có một Đấng trung gian giữa TC và loài người : đó là một con người, Đức Kitô Giêsu.” (1 Tm 2.5). Và như thế, khi đức tin bàn về công cuộc cứu chuộc con người, thì cũng phải nói tới một người Trinh nữ tốt phúc là Maria, bởi vì Người là Mẹ sinh ra Đức Kitô Giêsu, nguồn độc nhất của tất cả ơn cứu chuộc, vì vậy Đ.Maria có một vai trò quyết định trong lịch sử cứu độ. Vai trò ấy, chính TC, trong ý định cứu chuộc khôn lường, đã chỉ định cho Đ.Maria.

       Ta chỉ còn có thể kết luận: Đối với chúng ta, không thể học hỏi công trình cứu độ của TC nhờ Đức Giêsu (ĐG), mà không tìm hiểu vai trò của Đ.Maria Mẹ Ngài trong công trình ấy.

-        Đóng góp của cuốn sách này:

Cuốn sách này muốn đóng góp phần mình vào việc hiểu biết Đ.Maria hơn, và từ đó giúp thêm yêu mến Người, nhờ học hỏi bằng cứ KT và Thánh Truyền sống động của Hội Thánh (HT), theo hướng đi của Công đồng Vat. 2, để “làm sáng tỏ vai trò của Đức Nữ Trinh trong Mầu Nhiệm cứu độ, cũng như nói rõ bổn phận những người được cứu rỗi đối với Mẹ TC, cũng là Mẹ nhân loại, cách riêng Mẹ các tín hữu” (Hiến Chế GH, số 54).

Chính Công Đồng, cũng trong Hiến chế ấy (số 67) đã khuyến khích các nhà thần học và những người rao giảng Lời Chúa, khi cứu xét phẩm chất phi thường của Mẹ TC… hãy làm sáng tỏ đúng mức những chức vụ và đặc ân của Người – vốn qui hướng về Chúa Kitô (CK), nguồn mạch chân lý thánh thiện và đạo đức.

Còn về phần tín hữu, Công đồng Vat. II nhắc nhở và dạy rằng: “Lòng tôn sùng Đức Mẹ chân chính không hệ tại tình cảm chóng qua và vô bổ, cũng không hệ tại một sự dễ tin phù phiếm, nhưng phát sinh từ một đức tin chân thật.” Tại sao ? Là tại vì “đức tin chân thật ấy dẫn chúng ta nhìn nhận địa vị cao cả của Mẹ TC, và thúc đẩy chúng ta lấy tình con thảo yêu mến và noi gương các nhân đức của Mẹ chúng ta.”

Vậy ta sẽ:

I. HỌC HỎI BẰNG CỨ KINH THÁNH VỀ ĐỨC MARIA 

·       Nhưng phải học hỏi KT với Hội Thánh :

Việc đầu tiên người tín hữu phải làm khi muốn suy gẫm đến nơi đến chốn về Mầu Nhiệm ĐTN rất thánh, là tìm đọc những gì Thánh Kinh (TK) nói về Trinh Nữ Maria, Mẹ Chúa Kitô, Chúa chúng ta…

Mà cuốn TK là cuốn sách của Hội Thánh (HT) [1], một cuốn sách không những do HT ban cho, mà HT còn hằng hiện diện trong mỗi trang sách, qua những lời chú giải, qua những việc giảng dạy để hướng dẫn tín hữu trong việc tìm hiểu. Nói tóm, ta phải đọc TK với HT.

·       KT có nói về ĐTN Maria!

Đức Giáo Trưởng [2] Piô 12 đã quả quyết trong diễn từ tại Hội nghị Thánh Mẫu 24-11-1954 rằng: TK Cựu Ước (CƯ) cũng như Tân Ước (TƯ) nói về ĐTN nhiều điều đặc sắc hơn người ta thường tưởng. Dầu vậy, so với những bản văn nói về Mầu Nhiệm ĐK, những bằng cứ Kinh Thánh (KT) nguyên thủy về Đ.Maria thật quá ít và kín đáo.

·    Cách đọc:

+ Trước hết, J.Guitton (sđd [3]) lưu ý: “Trí khôn có nhiệm vụ canh chừng những manh động của tình cảm, nhất là khi tình cảm trá hình thành tư tưởng”. Vậy thay vì bịa đặt ra những ý định của TC về Đức Mẹ, chúng ta phải theo sát những thực hiện cụ thể của ý định TC về Mẹ, nhờ lời dạy của Giáo huấn Quyền và của Phụng vụ… Chúng ta cũng phải hy sinh tính hiếu kỳ, vì KT ít làm thỏa mãn tính ấy.”

Đôi khi ta tưởng nếu ta được biết nhiều điều về Đức Trinh Nữ, lòng tôn sùng ta sẽ tăng lên. Trí tọc mạch làm ta thèm thuồng những chi tiết. Thế là ta sẽ bị cám dỗ đi tìm nơi các nguồn liệu mà uy tín đáng khả nghi.[4] Đó là một sai lầm! Vấn đề không phải là thêm những chi tiết vào những điều KT đã thuật lại, để liều mình coi Đức Mẹ chỉ là một nhân vật dễ mến nhờ những chi tiết lý thú, nhưng là đào sâu các bằng cứ mặc khải nguyên thủy, và tìm hiểu chúng dưới ánh sáng của lịch sử cứu độ đã được TC bày tỏ, ở đó Đ.Maria có một vai trò.

Nói như vậy không phải muốn gạt bỏ đóng góp của những cố gắng hiện đại nhằm dựng lại môi trường xã hội, văn hóa và tôn giáo, trong đó Đ.Maria đã sống…

+ Thứ đến, khi đề cập đến các bản văn Tân Ước (TƯ), chúng ta buộc lòng phải nhận định ba sự kiện:

Trước nhất là sự kín đáo, dè dặt tối đa của những bài tường thuật liên quan tới Đức Mẹ…[5]

Thứ hai, dù được chọn để nói về Đức Mẹ, các trình thuật ấy trước tiên lại muốn nói về ĐK.

thứ ba, cách riêng trong những trình thuật về thời thơ ấu ĐG (ĐG) trong Mt và Lc, các bản văn ấy có chủ đích mục vụ: nghĩa là cho ta thấy Giuse và Maria là gương mẫu cho Kitô hữu biết tiếp nhận và tin ĐG Kitô. Đ.Maria là người đầu tiên đã “Tin” và gắn bó với TC. Người là một Kitô hữu hoàn hảo! Đức Mẹ không quan tâm lắm đến điều chúng ta nghĩ về Người, nhưng Người muốn cả chúng ta nữa cũng gặp được bàn tay TC và phó thác đời mình cho Ngài.

II. NHỜ NGHIÊN CỨU TRUYỀN THỐNG SỐNG ĐỘNG

Có những chân lý liên quan đến Mầu Nhiệm Đ.Maria, được HT xác định như là chân lý mặc khải (buộc phải tin), nhưng KT lại không nói minh bạch (chẳng hạn : tín điều Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội). Thế thì lấy những chân lý ấy ở đâu ? Thưa : Ở “TRUYỀN THỐNG SỐNG ĐỘNG” [6], Truyền thống này sẽ “làm hiện tỏ[7] những yếu tố mặc khải liên quan đến mầu nhiệm Đ.Maria nhưng còn tàng ẩn.

-----------------------------------

** Để hiểu “Truyền thống sống động” cách thấu đáo hơn, xin trích lược vài đoạn giải thích của cha Giuse Nguyễn Thế Thuấn, CSsR, Giáo sư Học viện DCCT, ĐaLạt (tốt nghiệp Cử nhân KT “Trường KT Giêrusalem”):

“Duyệt xuyên suốt lịch sử của mặc khải, ta thấy rằng : Lời TC được mang đi trước tiên không phải nhờ Sách Thánh mà là nhờ “đoàn dân TC chọn” (hay Tuyển dân”) sống Lời ấy và loan báo, nói cách khác đó là Truyền thống sống động, rồi sau mới có Sách Thánh, và Sách Thánh có rồi, thì cũng chính tuyển dân TC ấy mang theo.

Phải biết rằng : Bất cứ vào thời nào, đạo của tuyển dân TC vẫn được đặt trên nền tảng là Lời TC do các kẻ được “TC linh hứng” cho mà phát biểu ra, dù là thời Tổ phụ hay thời Môsê, thời các tiên tri, thời các Hiền nhân, dù là thời CƯ hay TƯ. Nhưng trước khi được viết thành sách, Lời của TC đã được chuyển từ người này sang người khác [8], thế hệ này qua thế hệ khác bằng muôn vàn cách: giảng dạy bằng miệng, cử hành công khai những lễ nghi phụng tự, lặp lại các kinh nguyện tổ tiên để lại, cha mẹ dạy lại cho con cái, ông bà thuật truyện cho con cháu... Tắt một lời, sinh hoạt cộng đồng của tuyển dân TC là con đường thứ nhất nhờ đó Lời TC đến với người ta.

Sách Thánh giữ một vai trò nào trong sinh hoạt của tuyển dân TC ấy?

Có phải là đến một giai đoạn nào đó, Sách Thánh thâu luợm tất cả nội dung mặc khải, và từ đó, lấn hẳn và loại đi hết các cách chuyền đạt mà Truyền thống đã dùng đến trước kia hay sao ? Không ! Sách thánh không lấy trọn Truyền thống sống động, Sách Thánh chỉ gom lại một ít yếu tố có uy tín đặc biệt và bền bỉ. Việc Lời TC kết thành văn ấy chỉ bao quát một phần nào đó của Truyền Thống sống động, tỉ dụ quyển sách có tính cách hệ thống nhất CƯ là sách Đệ Nhị luật cũng không phải là tất cả Lề luật Môsê, cũng như sách Tin Mừng Máccô cũng không phải là tất cả Tin Mừng về Đức Kitô. Như thế, Truyền thống sống động bao quát rộng hơn KT và gồm cả KT. Những dữ kiện mặc khải nào không được ghi chép trong KT thì vẫn còn được giữ lại trong Truyền Thống sống động. [9]

Truyền thống này có một điểm đặc sắc, đó là nó luôn phát triển, vì thế mới gọi là Truyền Thống “sống động” : “Truyền thống …ấy vẫn tiến triển luôn trong HT dưới sức phù trợ của Thánh Thần (x. Ga 16.12-13). Quả thế, các sự việc và lời nói truyền lại (tức là các dữ kiện mặc khải) được hiểu biết thấu đáo hơn, hoặc nhờ sự chiêm niệm và học hỏi của những tín hữu đã luôn suy tưởng các điều ấy trong lòng; hoặc nhờ sự thấu hiểu về những thực tại siêu nhiên mà họ cảm nghiệm được; hoặc nhờ sự giảng dạy của những người đã lãnh nhận cách chắc chắn đặc sủng về chân lý cùng với việc kế vị các Tông đồ trong chức Giám mục. Như thế qua bao thế kỷ, HT luôn hướng tới sự viên mãn của chân lý thần linh…” (Hiến Chế Lời TC, số 8)

Truyền Thống sống động vẫn luôn tiến triển như thế, lấy gì đảm bảo tính chân thật ? Trên đây trả lời : “nhờ sức phù trợ của Thánh Thần.” Thế nghĩa là Truyền Thống sống động tuy không đem thêm mặc khải mới, vì mặc khải chính thức đã chấm dứt ngay sau khi vị Tông đồ cuối cùng qua đời, dẫu vậy – cha G.Thuấn viết – Thánh Thần vẫn tiếp tục linh hứng HT, cho HT được quyền vô ngộ, chẳng những đó là một sự hỗ trợ tiêu cực như người ta nói, làm cho HT khỏi sai lầm trong những khi long trọng tuyên bố tín điều, nhưng thực đó là một ơn tích cực làm cho thấy rõ hơn (= làm hiển tỏ, minh bạch hóa) và kéo ra dần dần những điều tàng ẩn trong dữ kiện đức tin các Tông đồ đã trối lại. Thánh Thần xưa kia đã linh hứng các tác giả KT, thì Thánh Thần cũng linh hứng các tác giả Truyền thống sống động, và nay Thánh Thần cũng còn ở trong HT, cho HT được quyền tuyên bố ý nghĩa đích xác của KT cũng như của Truyền thống. (Sđd, tr. 440)

Nhưng từ khi Lời Thiên Chúa đã được viết thành văn thành sách, Kinh thánh liền giữ một vai trò chỉ đạo trong HT. [...] Vì vậy, trong HT sơ khai, một khi Truyền thống các Tông đồ đã cô đọng lại phần nào trong Sách, thì Sách ấy liền nên qui luật cho Đức tin, cho đời sống.

Chính để cho HT có thể giữ an toàn nguyên vẹn “tồn khoản” (= kho mặc khải) Người đã ký thác, mà TC đã muốn cho Lời của Người được ghi lại bằng giấy mực và có bảo đảm, không phải bảo đảm thường tình của con người, mà sự bảo đảm của chính TC.

Như thế, HT xác tín về mọi điều mặc khải không phải chỉ nhờ TK mà thôi. Chính vì vậy mà cả TK lẫn Truyền Thống sống động đều phải được đón nhận và tôn trọng với một lòng quí mến và thành kính như nhau.” (HC Lời TC, số 9)

(Trích quyển: Cố Lm Giuse Nguyễn Thế Thuấn, DCCT, Kinh Thánh Chuyên Khoa, Tập 1, tr.315-317, 346-47)

III. ĐỂ ĐẠT MỤC ĐÍCH LÀ TẠO MỘT LÒNG TÔN SÙNG CHÂN CHÍNH

J.Guitton (Sđd, 11tt) cho biết về chức năng của “việc tôn sùng” là gì : “Đức tin là sự chấp nhận các chân lý vượt quá trí hiểu của loài người. Các chân lý ấy được xác định trong các bản tín biểu (Symboles), mà bất cứ người nào là thành viên của GH (GH) đều buộc phải tuyên xưng. Lý do để tin các chân lý ấy là: Chúng được chính lời TC dạy, đã được Chúa Giêsu (CG) phát biểu ra, và được GH truyền lại.”

Nhưng “Làm thế nào để các chân lý (khô khan trừu tượng đó của đức tin) thấm nhập vào đời sống mình, vào tâm thức và tiềm thức mình?

Thưa : Lòng tôn sùng là phương thế duy nhất, nó vốn có chức năng làm cho đức tin dễ hấp thụ vào cuộc sống của ta hơn, cách riêng đối với giới bình dân”.

Câu hỏi được đặt ra là: Tín hữu Công giáo Việt Nam có lòng tôn sùng Đức Mẹ không ?

Họ có tiếng là kính mến Đức Mẹ.

Song xét kỹ:

a) Nơi đại đa số, lòng sùng kính ấy nếu có nồng nhiệt, đậm đà và rất thành thực, lại vẫn thấy thiếu chiều sâu, vì thiếu hiểu rõ vai trò và địa vị ĐTN trong Chương trình cứu rỗi của TC, nhờ Đức Giêsu Kitô. Vì thường họ chỉ chú ý đến vai trò của Người là Mẹ hay thương xót, và là Đấng cầu bầu, cứu giúp bệnh tật và hoạn nạn.

b) Nơi một số tín hữu khác, đặc biệt trong giới trẻ, chịu ảnh hưởng của thời đại khoa học, kỹ thuật, của những trào lưu cấp tiến, của anh em ly khai, cách riêng Tin Lành, lòng tôn kính Đức Mẹ đã bị đưa ra ngoài bìa đời sống đạo, coi là một điều phụ thuộc, không cần thiết cho đời sống Kitô hữu của mình.

Nếu chúng ta đến hỏi ý kiến thần học gia K.Rahner, ông sẽ không nghĩ như vậy. Ông sẽ cho biết: “Đức Mẹ liên quan đến ta cách mật thiết, chỉ vì trong chương trình cứu rỗi ta mà TC hoạch định, tức là chương trình liên quan đến con người, đến trần gian, đến mỗi người chúng ta, Đức Mẹ giữ một vai trò rất quan trọng… Nếu ta được thấy và được biết là có những sợi dây liên hệ thâm sâu với Người đến chừng nào, rất nhiều người sẽ giật mình, vì thế “có thể nói đời chúng ta vô vị nếu không có Maria” (x. K.R., tr.4).

Trong thông điệp “Mẹ Đấng Cứu Thế” (MĐCT) (1987), Đức thánh Giáo Trưởng Gioan Phaolô II còn nghĩ rằng: Trong cuộc đời các môn đệ Đức Kitô (ĐK), không thể thiếu vắng “chiều kích Maria” được, (nghĩa là khung trời Maria, bầu khí Maria, sự hiện diện và lòng yêu mến Maria). Trong bình diện tự nhiên, làm sao con người có thể thiếu tình mẫu tử nhân loại, thì trong đời sống siêu nhiên cũng vậy, tín hữu không thể thiếu tình mẫu tử siêu nhiên của Đ.Maria. “Chính những lời trối trăng của CG : “Này là con Bà”, “Này là Mẹ anh” đã nói lên điều ấy. CG không chỉ nói với Gioan vào giờ phút ấy đứng bên thập giá mà là nói với mọi môn đệ ĐK, mọi Kitô hữu. Đấng Cứu Thế giao phó Mẹ Ngài làm Mẹ các môn đệ.”

Với lời nói có thẩm quyền tối cao như vậy, tín hữu chân chính nào còn có thể nói rằng: Đ.Maria ở ngoài rìa của mầu nhiệm cứu độ, và không cần đếm kể đến Người, không cần tôn sùng, kính mến Người? Người mà chính ĐG, Ngôi Hai TC làm người, đã vâng phục và tôn kính (Lc 2.51), vì chính Ngài đã ban điều răn ấy (x. Đnl 5.16), thì lẽ nào các thụ tạo dưới quyền Ngài lại có thể không tôn kính, mến yêu được ư ? [10] Có ai trọng kính Vua mà lại khinh dể bà hoàng thái hậu mẹ vua? Hồi xưa, kẻ ấy phạm tội khi quân và có thể bị tru di tam tộc!

·       Cần có lòng tôn sùng chân chính:

Công Đồng Vat 2 dạy : hãy tạo cho mình “một lòng tôn sùng chân chính… phát sinh từ một đức tin chân thật, dẫn chúng ta nhìn nhận địa vị cao cả của Mẹ TC”, trong Mầu nhiệm CK và HT (Hiến Chế GH, số 67).

IV. TÔN SÙNG BỀ TRONG VÀ BỀ NGOÀI

a) Vì có những người chống đối các cách thức tôn kính bề ngoài, chủ trương đạo chỉ tại tâm thôi!! Nói chung: « hữu ư trung xuất hình ư ngoại »: con người gồm hai phần hồn và xác, cho nên ý tưởng, tâm tình bên trong luôn được bộc lộ, diễn tả ra bên ngoài…

Do đó, tầm quan trọng của các ảnh tượng, các lễ nghi bên ngoài, các lời kinh, tiếng hát, các cách tôn kính cụ thể bình dân đủ kiểu, đủ loại, không thể nói hết..

b) Phải tránh những cách tôn sùng sai trái:

1– Của các người trí thức kiêu căng, tự mãn, luôn nặng óc phê bình những gì họ cho không hợp với sở thích, với lý trí, với khoa học: (thí dụ: họ hoài nghi mọi phép lạ; không chịu nổi việc trưng bày ảnh tượng…)

2Của các kẻ bối rối: sợ tôn sùng Mẹ làm giảm tôn thờ Chúa Kitô; lấy làm chướng tai những lời ca ngợi Đức Mẹ…

3– Của các kẻ tôn sùng bề ngoài: làm việc tôn sùng cách máy móc, chiếu lệ (đọc kinh dài mà không chú tâm, thích kiệu rước linh đình; vào hội Đức Mẹ mà không sống theo gương Mẹ).

4Tôn sùng lấy lệ: để sống yên thân trong tội, miễn có đọc kinh Kính Mừng, chắc sẽ được Đức Mẹ cứu, đeo ảnh vẩy là khỏi tai nạn…

5Tôn sùng nhẹ dạ: không kiên tâm bền chí, tùy hứng…

6Tôn sùng vụ lợi: toàn xin ơn, nhất là ơn vật chất: (được kiện, cho khỏi bệnh, thi đỗ…), không được thì ngã lòng.

c) Những đặc tính của việc tôn sùng đích thực:

a) Tính nội tâm: phát xuất từ tâm hồn, trái tim, lòng chân thành, do ý thức những đặc ân, chức năng của Đức Mẹ. Trong lịch sử việc sùng kính chân chính Đức Mẹ, nổi bật vị Thánh Grignion de Monfort (1673-1716).

b) Tính thân mật: như con thảo, đơn sơ, tin tưởng…

c) Tính thánh thiện: lòng tôn sùng làm ta cương quyết tránh tội và bắt chước các gương nhân đức của Đức Mẹ.

d) Tính kiên trì: không dựa vào cảm xúc, hứng chí, bốc đồng, lúc khó buông bỏ…, kiên vững trong tin cậy, bền bỉ trong yêu mến…

e) Tính vô vị lợi: không tìm mình, chỉ tìm Chúa và vinh quang cho Ngài. Tôn sùng Mẹ để nhờ Mẹ đến Chúa, bằng lòng chịu hy sinh, bỏ mình… Khi được ơn thì cảm tạ, khi vác thập giá thì cam lòng.

g) Một số việc tôn sùng trong, ngoài:

Bề trong: 1) Suy tôn Mẹ Thiên Chúa. -2) Suy ngẫm các nhân đức, đặc ân v.v… của Mẹ. -3) Yêu mến, ngợi khen, tạ ơn Mẹ. -4)  Thành thực kêu cầu Mẹ. -5) Dâng mình và kết hợp với Mẹ. -6) Làm những việc đẹp lòng Mẹ. -7) Bắt đầu, tiếp tục, kết thúc mọi việc nhờ Mẹ, trong Mẹ, với Mẹ, cho Mẹ... để cho Chúa Kitô được vinh hiển và yêu mến.

Bề ngoài: Vào các hiệp hội kính Mẹ, các  Hội Dòng lập nên để kính Mẹ – Rao truyền lòng tôn sùng Mẹ – Bố thí, ăn chay, hãm mình kính Mẹ – Mang trong mình dấu hiệu của Mẹ: chuỗi, áo Đức Bà, ảnh vảy… – Đọc kinh Kính mừng, lần chuỗi Mân Côi, nhất là các kinh Giáo Hội quen đọc, ca hát ngợi khen Mẹ, trang hoàng hoa nến nơi các bàn thờ Mẹ, Rước kiệu…

II. TÔN SÙNG TRONG VÀ NGOÀI PHỤNG VỤ

Nói khách quan, việc Phụng vụ tự nó tốt hơn các việc ngoài Phụng Vụ, vì Phụng Vụ là việc tôn kính chính thức và công khai của Giáo Hội. Nhưng hoa trái thiêng liêng (ơn ích) thì tùy vào tâm trạng của người dự.

1.   Tôn sùng trong Phụng Vụ: xem sách lễ Rôma: Các lễ kính Đức Trinh Nữ, Kinh nhật tụng, Các Thánh Thi, các ca vãn v.v…

2.  Tôn sùng ngoài Phụng Vụ: tập thể, hay cá nhân, có tổ chức hay riêng tư: những hình thức như thế nhiều vô kể – Các tượng ảnh, điêu khắc… Các cuộc hành hương – Các tu hội, hiệp hội Thánh Mẫu – Các sách vở văn chương, nghệ thuật.

 

á

 



[1]  Chỉ vì chúng ta thường nghĩ rằng HT vớ được một số sách, thấy chúng hay và có ích nên coi là có thần hứng rồi cho nhập vào qui điển (canon) làm qui luật chỉ đạo cho cách sống đạo của tín hữu. Cho nên trong quyển “Kinh Thánh chuyên khoa”, của lm. Giuse Nguyễn Thế Thuấn, CSsR, tập 6, tr.370tt, cha chứng minh rằng Tân Ước là sách của HT, vì xuất hiện theo từng nhịp tiến triển cũng như vất vả tranh đấu và lao đao chống chọi với những thế lực thù địch, và lạc đạo để tồn tại.

[2]  Tạm dịch như thế, thay cho chữ thường dùng : “Đức Giáo Hoàng”, nghe có vẻ trở về thời phong kiến, Ngài không là ông hoàng, vì Ngài vẫn thường tự xưng là “Tôi tớ của các tôi tớ anh em”, theo lời dạy của CG (Mt 20.27: “Ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em.”) Nhất là thay thế chữ “Đức Thánh Cha”, vì có lời cha G.Thuấn viết về đó như sau: “Ngày nay, có những vị G.mục lấy làm xấu hổ vì được gọi là Đức Cha…Vì thế có những nơi các ngài cấm hẳn những danh xưng to lớn như thế. Cũng không nên gọi Đức Giáo Trưởng là “Đức Thánh Cha” (Sa Sainteté), khi xét đến cái đích thực “thánh” là gì trong KT thì không thể dùng tiếng đó cho Ngài…” (Cố lm. Giuse Nguyễn Thế Thuấn, DCCT, KT chuyên khoa, tập 6, tr.748-49).

[3]  Trong sách này, chúng tôi viết tắt một số chữ, muốn xem đầy đủ mời ngó ở Mục “Các Chữ Viết Tắt” ở đầu sách.

[4]  thế phải cẩn thận khi đọc những sách “Ngụy thư” tức là những sách thường đội tên các Tông đồ, song không được Giáo Hội nhận là sách KT được linh hứng …

[5] Chẳng hạn: không thể tìm thấy dấu chứng giá trị nào về điều ta thường nghe : “Chúa Giêsu sống lại trước hết đi viếng Đức Mẹ”…; theo chứng TM thì Chúa Giêsu phục sinh hiện ra trước tiên với cô Maria thành Magdala….

[6] Hay cũng gọi là “Thánh truyền”.

[7] Hay “Làm minh bạch” (Oeuvre d’élucidation ou d’explicitation).

[8] Danh từ thông dụng gọi là “truyền khẩu”.

[9]  Một ví dụ: Nhờ Truyền Thống sống động giữ lại những dữ kiện mặc khải như thế, mà HT mới khám phá được và làm “hiện tỏ ra” mầu nhiệm vô nhiễm nguyên tội của Đức Trinh Nữ Maria còn tàng ẩn trong đó, đang khi KT không thấy nói minh bạch.

[10] J.T.Connell, The visions of the Children, St Martin’s Press, NewYork, 1992, tr.23.

Print In trang | sendtofriend Email | back Trở về
  
Tin/Bài khác
Kinh Do Một Đọc Giả Www.memaria.org Gửi Tặng (6/17/2021)
Tình Mẹ Còn Mãi, Lm Tạ Duy Tuyền (3/31/2021)
Đối Thoại Truyền Tin, Lm Giuse Nguyễn Hữu An (3/31/2021)
Cn 3982: Thiên Thần Tại Linh Địa Akita (1) (1/11/2018)
Cn 3922: Cuộc Hiện Ra Của Đức Bà Thành Công (our Lady Of Good Success) #2 (7/25/2017)
MeMaria.org -- Từ 15/4/1999 lần truy cập -- Kim Hà [Valid RSS]
Copyright © 2011 www.memaria.org. All Rights Reserved. Powered by VNVN System Inc.
Best view with IE 7.0, Fire Fox, resolution 1024x768