MeMaria.org

Radio Giờ Của Mẹ - Giờ Bình An - Giờ Tin Yêu - Giờ Hy Vọng
(714) 265-1512. Email: Kim Hà | webmaster

Mục Lục
Liên Lạc

CN659: Cuộc Gặp Gỡ Tình Cờ

§ Kim Hà

nhattien.jpg

Nhà văn Nhật Tiến

Đây là cảm nghiệm của riêng tôi. Tôi không có tham vọng vinh danh hay bênh đỡ, nhưng công bình mà nói: Ông là một nhà văn có lòng nhân hậu và từ tâm.

Nhà văn Nhật Tiến là một nhà văn không xa lạ gì với nhiều thế hệ độc giả, cả từ trong nước trước 1975 và sau này ở hải ngoại.

Tôi đọc sách của nhà văn Nhật Tiến từ khi còn là một cô bé mới lớn. Lúc ấy tôi khoảng 13 tuổi và được một người bạn của mẹ tôi tặng cho tác phẩm Chim Hót Trong Lồng. Tôi đã say sưa đọc một hơi hết cuốn sách ấy. Vừa đọc, tôi vừa khóc thương cho nhân vật chính trong câu chuyện. Và từ đó, tôi đi tìm mua các tác phẩm của nhà văn Nhật Tiến để đọc. Muốn mua được sách, tôi phải chịu nhịn đói nhiều bữa điểm tâm để dành tiền mà mua sách đọc.

Một số tác phẩm của ông nói đến các nữ tu và tu viện. Lời văn ông nhẹ nhàng và truyền cảm. Trong trí non nớt của tôi hình dung ra ông hẳn là một người có lòng nhân ái, thương xót trẻ mồ côi, thương người gặp cảnh ngộ long đong. Trong tác phẩm Chuyện Bé Phượng, ông nói đến một nhân vật nữ đã ra khỏi dòng các nữ tu, đi làm ăn cực khổ mà vẫn không quên ơn các nữ tu trong tu viên mà vẫn gửi tiền giúp đỡ các trẻ mồ côi.

Sau đó, tôi được đọc tác phẩm Thềm Hoang, một tác phẩm được giải thưởng Văn Học Toàn Quốc năm 1962. Tôi nhận thấy lối kể chuyện của ông thật lôi cuốn và hấp dẫn. Lối đối thoại của các nhân vật thật tự nhiên và sống động. Khi được giải thưởng cao quý ấy, thì tuổi đời của ông mới có 26 tuổi. Như vậy có nghĩa là khi ông viết tác phẩm ấy chắc ông chỉ mới hơn 20 tuổi. Quả thật ông là một người có thiên tài thi văn và có lòng nhân hậu.

Bẵng đi một thời gian khá lâu, vì vận mệnh thăng trầm của đất nước, tôi cùng gia đình vượt biên bằng đường thuyền rồi bị bắt ở Phan Thiết vào mùa hè năm 1978. Sau đó, gia đình chúng tôi khốn khổ vì bị tù, bị mất công việc, bị đuổi ra khỏi nhà để đi kinh tế mới. Sau hai năm khốn khổ và đau đớn ấy, đến năm 1980, gia đình tôi mới đi vượt biên bằng đường bộ và thành công.

Cuối năm 1980, khi vừa đặt chân đến California, vợ chồng chúng tôi thay phiên nhau ghi danh tại ại học cộng đồng để học tiếng Anh. Năm 1982, tôi theo học lớp Anh Ngữ đàm thoại cao cấp tại Đại học Cộng Đồng Orange Coast College (OCC) ở Quận Cam. Trong lớp ấy, tôi để ý thấy có một sinh viên lớn tuổi, luôn đặt những câu hỏi rất thông minh và chia sẻ những điều rất khôn ngoan, dù phải dùng Anh ngữ. Trong thâm tâm tôi nghĩ người sinh viên này có những ý tưởng sáng tạo như một nhà văn. Và tôi rất thích học lớp ấy vì được nghe những lời nói và câu chuyện có ý nghĩa, chứ không phải là những lời nói ngọng nghịu và đơn giản như ở những lớp Anh Văn vỡ lòng.

Trong chương trình học, một lần nọ, bà giáo Meriwether hỏi các sinh viên trong lớp học như sau:

“Nếu bạn ao ước được bầu chọn hai cơ quan quốc tế nào có việc làm ý nghĩa nhất và giúp ích cho nhân loại nhiều nhất thì bạn sẽ chọn cơ quan nào? Và tại sao?”

Các sinh viên phải ghi tên hai cơ quan ấy lên giấy và giải thích trước lớp học về lý do tại sao mình lại chọn những cơ quan ấy.

Lúc đó, tôi nhớ mình đã chọn Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế (Red Cross) và Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Tôi ghi sẵn trong giấy và chuẩn bị những lời nói để binh vực cho sự bầu chọn của mình.

Khi bà giáo người Mỹ hỏi luân phiên thì người sinh viên ấy cũng đã chọn Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế, và ông giải thích lý do mà ông đã chọn hội này. Lời ông giái thích rất chí lý. Đến phiên tôi, tôi cũng phải giải thích lý do mà tôi chọn Hội HTT Quốc Tế. Tôi đã nói rằng khi tôi còn là người tị nạn đường bộ ở biên giới Thái-Cambodia thì Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế đã chăm sóc và bảo vệ người tị nạn Việt Nam và những người tị nạn Cambodia. Họ thương yêu người tị nạn và đối xử với chúng tôi như những con người có nhân phẩm.

Điều làm cho tôi ngạc nhiên và thích thú là trong số 40, 50 sinh viên, không ai bình chọn Hội HTT Quốc Tế như người sinh viên ấy và bản thân tôi. Tự nhiên, tôi cảm thấy có một cái gì đó rất gần gũi với ông. Có thể ông là người tị nạn đã gặp nhiều gian truân như thân phận tị nạn đường bộ của gia đình tôi nên ông mới có cảm nghiệm giống như tôi.

Sau đó, trong chương trình học có một đề tài khác như sau:

”Nếu được đi du lịch thì bạn sẽ chọn thành phố nào?”

Tôi nhớ người sinh viên ấy đã chọn Paris và ông say sưa nói về khu vườn Lục Xâm Bảo (Luxembourg) và Bảo tàng viện Louvre. Ông giải thích rằng:

“Thời còn đi học ở trong nước hồi thập niên 50, tôi đã học thuộc lòng nhiều đoạn trích văn của các văn hào Pháp, trong đó có tác giả Anatole France nói về khu vườn Lục Xâm Bảo ở Paris và những đọan văn như thế đã theo tôi trong suốt thời kỳ còn cắp sách đến trường.”

Ông kể chuyện với tất cả nhiệt tâm của mình. Còn tôi thì chọn đi thăm thành phố New York vì nơi ấy có tượng Nữ Thần Tự Do, một biểu tượng của Hoa Kỳ vì nước này một quốc gia tự do trên thế giới. Thêm nữa, New York cũng là chiếc nôi của người tị nạn và di dân, đó nơi mà chiếc tàu đầu tiên tên May Flower chở người di dân Anh quốc sang lập nghiệp ở Tân Thế Giới là Châu Mỹ.

Trong lớp học đầy hào hứng ấy, người sinh viên này vẫn làm cho bà giáo và các sinh viên đi từ ngạc nhiên này đến thích thú khác vì sự chọn lựa và lối diễn giải duyên dáng và đầy kiến thức của ông. Tình tình của ông vui vẻ, nhún nhường và thân thiện.

Dần dần, tôi tò mò hỏi một người bạn học cùng lớp thì được biết tên ông là Tiến Bùi. Tôi cứ đoán chắc ông Tíến Bùi này phải là một nhà văn. Và cuối cùng, một người bạn bảo tôi rằng đó là nhà văn Nhật Tiến. Tôi rất mừng rỡ khi biết ông là một nhà văn mà tôi đã từng ái mộ từ khi còn là một thiếu nữ 13 tuổi ở trung học. Lúc ấy, tôi đã từng viết thư khen ngợi ông và gửi đến nhà xuất bản Huyền Trân nhưng không nghe ông trả lời. Giờ đây, được học chung với một nhà văn mà mình hằng ái mộ, đó là một niềm vui lớn cho tôi.

Sau đó, chúng tôi có nói chuyện và trao đổi về việc học, việc vượt biên…Dần dà tôi được biết nhà văn Nhật Tiến vừa đi làm, vừa đi học. Ông đã từng viết thơ, viết đơn kêu cứu cho thuyền nhân tỵ nạn. Trong lúc ấy, kể từ cuối năm 1980, tôi cũng đã từng viết những bài báo đăng trên báo Người Việt về người tị nạn đường bộ.

Do đó, nhà văn Nhật Tiến khuyến khích tôi hãy cố gắng viết và in sách để lại tài liệu cho ngày sau và để tranh đấu cho những đồng bào tị nạn còn đang kẹt lại ở biên giới Thái-Cambodia.

Nhờ sự nâng đỡ và khuyến khích của ông, tôi đã tranh thủ viết, dù rất bận rộn với gia đình đông con nhỏ, vừa phải lo cơm nước, vừa đi học, làm bài ở trường học, lại vừa đi làm việc nửa thời gian ở trường học.

Sau đó, ông đã giới thiệu tôi với Uỷ Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển- Boat Poeple S.O.S. Committee- để họ giúp tôi in sách và phát hành. Năm 1983, nhà văn Nhật Tiến là một trong những người đã đỡ đầu cho sự ra đời của tác phẩm đầu tay của tôi, đó là Report on the Vietnamese Land Refugees. Tác phẩm này được Uỷ Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển- xuất bản năm 1983, do tôi viết và dịch giả James Banerian dịch sang Anh ngữ. Tác phẩm này được giới thiệu rầm rộ trong cộng đồng người Việt ở Quận Cam, California.

Sau đó, tôi tiếp tục sáng tác và dừng lại khá lâu vì mỗi lần viết tập hồi ký đường bộ thì tôi phải sống lại những giây phút hãi hùng ấy để lời văn có thể lột trần được sự thật thống khổ đã xẩy ra cho gia đình tôi và các đồng bào tị nạn đường bộ người Việt Nam.Tập hồi kỳ ấy đã bị nhòe đi nhiều lần vì nước mắt của chính tôi, khi tôi phải thức khuya để hồi tưởng và ghi lại những cảm nghĩ của mình và các tình tiết đã xẩy ra.

Khi viết tạm xong tác phẩm thứ hai, Qua Cơn Bão Dữ thì tôi đưa toàn bộ tập bản thảo cho nhà văn Nhật Tiến để xin ông đọc và góp ý cho. Ông đã đọc và góp ý và viết đến 10 trang giấy. Lời phê bình của ông rất thẳng, thật và nảy lửa, làm cho tôi cảm thấy đau đớn mà khựng lại, không còn can đảm viết tiếp. Tôi tự nhủ:

“Đúng rồi, mình có phải là nhà văn chuyên nghiệp đâu mà viết hay được? Phê bình cái kiểu nặng nề ấy thì mình không viết nữa!”

Thế là tôi để tập bản thảo qua một bên mà lo đi tìm việc làm và chăm lo việc nhà. Mỗi lần đọc lại thư phê bình của ông là tôi buồn tê tái vì ông nói thẳng, nói cứng rắn mà chẳng nể nang một đàn em còn rất non nớt trên con đường viết văn. Khi nói chuyện, ông cũng thường nói vắn tắt và đôi khi chấm dứt câu chuyện rất nhanh. Tôi có cảm tưởng dường như ông không thích nói chuyện với phụ nữ.

Sau cùng, tôi phải thu hết can đảm đọc đi, đọc lại lời phê bình của nhà văn chuyên nghiệp này để sửa chữa, thêm bớt hầu viết cho xong cuốn Hồi Ký Qua Cơn Bão Dữ. Tác phẩm này được xuất bản năm 1992, đáng lẽ ra nó phải được ra đời sớm hơn từ lâu rồi. Dù sao tôi cũng phải công bằng mà nhận rằng lời phê bình của ông có nhiều điều chí lý. Và nhờ sự sửa chữa những sai sót nên cuốn sách ấy trở thành một tác phẩm được nhiều người ưa thích.

Sau đó, nhà văn Nhật Tiến lại khuyến khích tôi nên tự dịch tác phẩm Qua Cơn Bão Dữ sang Anh Ngữ. Tôi lại ngồi cặm cụi tự dịch sách mình và sau đó qua một người bạn Mỹ xem lại và sửa sai. Thế rồi tác phẩm Stormy Escape ra đời năm 1997.

Sau đó, tôi lại tự viết thư gửi đến các nhà xuất bản Mỹ để giới thiệu tác phẩm của mình. Tôi không có agent (người đại diện)cho mình, nhưng rồi cũng có ít nhất là hai nhà xuất bản nhận lời xuất bản Stormy Escape và giới thiệu tác phẩm này với giới truyền thông. Cuối cùng, nhà xuất bản Mc Farland in và phát hành.

Trong đời sống tạm dung trên đất Mỹ từ hơn 25 năm qua, lúc nào tôi cũng được nhà văn Nhật Tiến và bà Anne Frank, vị quản thủ SEA Archive (Thư Khố Văn Hóa Người Đông Dương, xin xem cảm nghiệm CN 657), nâng đỡ tinh thần, tìm cách giúp đỡ và vận động cho sự ra đời của các tác phẩm mà tôi đã cưu mang. Đó là hai ân nhân và là bậc thầy của tôi.

Giờ đây, sau 25 năm, tôi vẫn mang ơn nhà văn Nhật Tiến và kính trọng ông như một người thầy đáng quý, một người anh cả trong gia đình văn học, một người hướng dẫn trung thực và khí khái, đó là chưa kể ông còn là một nhà tranh đấu cho quyền sống của người tị nạn Việt Nam vào những thời điểm khó khăn nhất ở cuối thập niên 80.

Hôm nay, sau hơn 25 năm làm việc trong văn giới, tôi vẫn luôn ghi nhớ ơn của nhà văn Nhật Tiến vì tấm lòng chân thật và đôn hậu của ông. Ông luôn chăm sóc và lo lắng cho việc ra đời của những đứa con tinh thần của tôi. Nay tôi trở thành một nhà văn nữ được đón nhận trong văn giới, thì cũng là do sự khuyến khích và nâng đỡ tinh thần của ông.

Tôi nghĩ rằng nhà văn Nhật Tiến luôn tỏ lòng tốt và sốt sắng với mọi người, không riêng gì với cá nhân tôi. Ông đã từng giúp đỡ giới trẻ trong các sinh hoật văn hóa, hoặc các nhà văn, nhà báo khác trong môi trường viết lách, giúp những người cô thế, nghèo đói.

Đã có một thời gian tên tuổi của Nhật Tiến bị công kích kịch liệt trong dư luận cũng như báo chí về lập trường chính trị của ông. Vì ông chủ trương bỏ cấm vận, ủng hộ cuộc bang giao Việt Mỹ, hoà hợp hoà giải với những thành phần CS thức tỉnh ở trong nước để lập thành một khối đoàn kết đại dân tộc chống lại Cộng Sản độc tài, áp bức. Những tiếng nói ấy của ông vì đưa ra quá sớm (giữa thập niên 80) nên ông bị nhiều ngộ nhận. Nay thì mọi điều đã sáng tỏ, những viễn kiến chính trị của ông đã được thực tế chứng tỏ. Mặc dù bị ngộ nhận, nhà văn Nhật Tiến vẫn âm thầm chịu đựng mà không khuất phục, hay thanh minh. Đó chính là cái chí khí của kẻ sĩ.

“Phú quý bất năng dâm,
Bần tiện bất năng di,
Uy vũ bất năng khuất!”

Xin cảm ơn nhà văn Nhật Tiến, một người thầy khả kính, một người anh tinh thần đáng quý và một người đồng chí hướng trong các mục vụ nhân bản nhằm cứu giúp người tị nạn hay những người bất hạnh khác đang cần được nâng đỡ và an ủi!

Kim Hà, 25/7/07

Đọc nhiều nhất Bản in 01.09.2007. 16:30