MeMaria.org

Radio Giờ Của Mẹ - Giờ Bình An - Giờ Tin Yêu - Giờ Hy Vọng
(714) 265-1512. Email: Kim Hà | webmaster

Mục Lục
Liên Lạc

CN425: Các Linh Mục Và Tu Sĩ Trung Kiên Của Đan Viện Xi Tô

§ Kim Hà

Vào khoảng năm 2002, linh mục Berchmans Nguyễn Văn Thảo, Cha Bề Trên của Đan Viện Xi-Tô Thánh Mẫu Châu Sơn, thuộc vùng Nho Quan, Ninh Bình, Bắc Việt Nam, lúc ấy đã 87 tuổi mà ngài một mình lặn lội sang Hoa Kỳ để xin tiền về trùng tu Đan Viện Xi Tô Nho Quan, Ninh Bình.

Ngày ấy, Radio Giờ Của Mẹ cũng đã phỏng vấn cha già Berchmans và sau đó, có một số khá đông các ân nhân giúp đỡ cho Đan Viện của cha. Năm 2005, cha già Thảo lại cùng thầy Nguyễn Hùng Phi sang Hoa Kỳ lần nữa. Ngài tặng những tài liệu lịch sử của Đan Viện và cho phép Radio Giờ Của Mẹ phổ biến qua đài phát thanh.

Theo lời kể của cha Thảo thì lúc ban đầu, Đan viện gặp nhiều khó khăn và sóng gió, có nhiều thầy cầu nguyện và chết ngồi vì đời sống khổ cực, đói khổ, vì phong thổ và khí hậu khắc nghiệt.

Gần đây năm 2007, qua cha Nguyễn Hùng Phi (vừa được thụ phong linh mục), chúng tôi nhận được tập kỷ yếu mừng 70 năm thành lập Đan Viện Thánh Mẫu Châu Sơn, Nho Quan, Ninh Bình (1936-2006). Chúng tôi xin trích một phần của tập kỷ yếu ghi lại những sự gian khổ nhưng can đảm của những vị đan sĩ Đan viện Xi-Tô Thánh Mẫu Châu Sơn, Nho Quan, Ninh Bình. (từ trang 29-32)

Thử thách và gian nan (1950-1988)

1. Biến động:

Cách mạng tháng tám năm 1945 thành công, nhưng chẳng bao lâu Pháp tái chiếm miền Nam, Huế và tiến quân ra Bắc. Chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ. Quân đội cách mạng xây dựng cơ sở kháng chiến tại Việt Bắc và các vùng căn cứ. Quân đội quốc gia do Pháp yểm trợ kiểm soát các thành phố, thị xã…Không khí chiến tranh bao trùm khắp nơi. Nhiều địa phương bị chia thành hai vùng:“vùng tề” là vùng quân đội quốc gia chiếm đóng, còn vùng thuộc quyền kiểm soát của bộ đội gọi là”vùng tự do”.

Đan viện Châu Sơn thuộc vùng tự do. Sự biến động của xã hội đã tác động nhiều đến đời sống sinh hoạt của Cộng đoàn Châu Sơn. Việc đi lại rất phức tạp, đời sống kinh tế của Cộng đoàn gặp nhiều khó khăn do các sản phẩm nông sản như: cà phê, thuốc lá, bánh sữa…không bán được. Trong khi ấy, quân đội Pháp càng ra sức tàn phá, ngày đêm tiếng súng đì đẹt chung quanh Nhà dòng…Kho chứa cà phê trên 50 tấn bị trúng bom của Pháp cháy cả tuần. Có hôm máy bay rà bắn chết trên 40 con bò của đan viện. (x. Cs 2 trang 10)

Năm 1950, tình hình chiến sự ngày càng quyết lịệt khiến ban giáo sư rút khỏi Châu Sơn. Trước diễn biến này, hội đồng đan viện phải nghĩ đến giải pháp gửi các thầy đang học triết và thần học cũng như các chú đệ tử từ đệ tứ trở lên về Phát Diệm để tiếp tục học hành. Hè năm 1950, cha Bề Trên Marco gửi 7 thầy về học ở Đại Chủng Viện Phát Diệm. còn các chú đệ tử được cha phó Bề trên Berchmans Nguyễn Văn Thảo tập trung về Như Tân, Phát Diệm. Số các chú đệ tử nhỏ vẫn còn ở lại Châu Sơn. Đầu năm học mới, cha Bề trên cho nhận thêm vài chục em ở những vùng chung quanh đan viện vào học cho đến năm 1953 thì đệ tử viện ngưng hoạt động.

2. Ly tán.

Từ năm 1950, các đan sĩ phải thường xuyên tham gia các cuộc hội họp, học tập chính trị…Anh em thay nhau đi dự, riêng cha Bề trên Marcô được mời đi ”họp” liên tục. Tình hình càng trở nên nghiêm trọng hơn khi công an đến gặp từng người, yêu cầu lăn vân tay và khai lý lịch. Không những thế, một số người còn được tổ chức đột nhập vào kho thóc của đan viện mạnh ai người nấy lấy.

Tình hình ở Phát Diệm cũng không ổn. Cha Berchmans và các thầy, các chú đệ tử phải sơ tán ra Hà Nội. Các thầy tiếp tục học ở Đại Chủng Viện Xuân Bích. Các chú đệ tử chia làm hai lớp: một lớp học ở trường các sư huynh, lớp còn lại học ở trường Dũng Lạc. Nhưng ở Hà Nội chưa được bao lâu thì ngày 21 tháng 9 năm 1952, cha Berchmans cùng các thầy, các chú lại lên đường vào miền Nam. Máy bay đưa phái đoàn đến Sài Gòn vào lúc 12 giờ đêm cùng ngày.

Trong khi đó, cuộc sống tại Châu Sơn rất phức tạp, kinh tề gần như kiệt quệ. Trước tình hình khó khăn này, tối ngày 21 tháng 4 năm 1953, cha Bề trên Marcô cho Cộng đoàn di cư.

Tuy nhiên, ngài cũng ban phép rộng: ai đi thì đi, ai ở lại thì tùy ý. Được phép cha Bề trên, đa số anh em ra đi, số ở lại còn rất ít.

Để thực hiện chuyến hành trình, những vị ra đi chia làm hai nhóm: nhóm các thầy cải trang và gánh củi như dân thường đi họp chợ đêm. Đến cầu Nho Quan (cách đan viện 3 km) các thầy xuống thuyền rồi nhổ neo khởi hành lúc 2 giờ sáng. Nhóm còn lại gồm có: cha Bề trên Marcô, cha quản lý Martinô, cha giáo tập Philipphê, cha Rôbertô và thầy Ban. Các ngài đi trễ hơn và xuống thuyền tại bến Lạc Uyển. Nhưng thuyền của các ngài vừa đi tới cầu Nho Quan thì bị bắt giữ lại. Chuyến đi bất thành, các ngài lại trở về đan viện ngay trong đêm hôm đó.

Số các vị quyết tâm ở lại gồm có cha Phêrô Trần Đức Trưởng, thầy Phêrô Nguyễn Văn Hồng, thầy Phanxicô Trần Đình Liệu và ba thầy tập sinh: Giuse Hà Tâm Sự, Bonaventura Trần Hữu Thịnh và Vitalis Trịnh Ngọc Tăng. Nhưng vài tháng sau, ba thầy tập sinh lại lên đường vào Nam. Các vị đi đến Cầu Đế (cách đan viện 7 cây số) rồi xuống thuyền và đi được 1 cây số thì bị bắt giữ lại.

Cuộc di cư đã làm chia ly Cộng đoàn Châu Sơn. Tuy nhiên, đó lại là thánh ý nhiệm mầu của Thiên Chúa. Nhờ thế, có hai Cộng đoàn Châu Sơn ở hai miền của Tổ quốc Việt Nam. Nhóm các đan sĩ có cơ hội ra đi để thành lập Cộng đoàn mới ở phương Nam (nay là Cộng đoàn Châu Sơn, Đơn Dương, Lâm Đồng). Nhóm các vị ở lại để tiếp tục duy trì đời đan tu ở phương Bắc.

Sau chuyến đi bất thành, các anh em đã nhận ra thánh ý Chúa thực hiện nơi Cộng đoàn Châu Sơn. Từ đó, các ngài quyết tâm gắn bó với Châu Sơn cho đến cùng. Cho dù đường vào phương Nam lại mở rộng thênh thang vào năm 1954 khi ủy ban quốc tế về người tị nạn đưa xe tới cổng đan viện mời các ngài lên xe để đi Nam nhưng các ngài đã từ chối. Cho dù phải mất mát nhiều mặt, phải đối diện với thử thách gian nan nhưng các ngài vẫn không sờn lòng, không muốn rời bỏ đan viện nữa.

3. Lên núi Sọ.

Sau chuyến đi bất thành, trở về đan viện được vài hôm, ngày 25 tháng 4 năm 1953, bốn cha được mời đi ‘làm việc” và không được trở về. Các ngài được đưa vào trại Lý Bá Sơ (Thanh Hóa).

Thầy Inhaxiô Đinh Hiền Lương đã đi lọt cùng nhóm các thầy vào đêm 21 tháng 4 năm 1953 và đã vào tới miền Nam, định cư ở Phước Lý, cách Sài Gòn 30 cây số. Nhưng vì thương nhớ các cha và anh em còn ở miền Bắc, thầy lại xin cha Berchmans Nguyễn Văn Thảo cho thầy trở về Châu Sơn. Trở về đan viện sống với anh em được gần một tháng thì thầy bị bắt và được đưa vào trại Lý Bá Sơ. Đây là nơi giam giữ 17 linh mục và một số tu sĩ thuộc bốn giáo phận: Hà Nội, Thái Bình, Bùi Chu và Phát Diệm.

Theo nhật ký của cố Đức Ông Phaolô Tịnh Quang Thiều thì một hôm ngài :

”Thấy tiếng động…ngó qua khe liếp…Ôi chao ôi! Bốn cha Châu Sơn và một thầy Dòng, áo dòng trắng xóa, đầu couronne. Sao lại tu ở đây? …Suốt ngày đêm bị xiềng và cùm, các cha…cả ngày chỉ việc thầm thĩ hết lần hạt, ngắm Đàng Thánh giá, rồi lại ngắm bảy sự thương khó Đức Mẹ…Tất nhiên chỉ thầm thôi!”

Vài tháng sau, ba thầy tập sinh của Châu Sơn bị bắt ở cầu Đế cũng được đưa vào trại Lý Bá Sơ.

Ở Lý Bá Sơ một thời gian, các vị dòng Châu Sơn được đưa về trại cầu Thủng (Tam Điệp, Ninh Bình). Sau một thời gian, các vị lại được chuyển lên Đồng Lau (nơi có nhiều cây lau), Yên Thủy, Hòa Bình. Các vị bị giam dưới gầm nhà sàn, nơi nhốt trâu bò của người dân tộc thiểu số. Ở trên sàn vẫn có một gia đình sinh hoạt bình thường. Thầy Nguyễn Hữu Niên đã sáng tác bài thơ tả cảnh nhà giam này như sau:

“Đồng Lau ở trên Hòa Bình,
Nhà ở làm gác ngay bên cạnh rừng,
Phía sau dựa núi coi chừng,
Ngắm nhìn dân tộc trên lưng con rùa.

Ở đây đất rộng người thưa,
Đồng bào thiểu số lại ưa thật thà,
Nơi đây là chốn giam ta,
Ở trên bốn tháng kể đà cũng lâu.

Kể trong hơn một tháng đầu,
Nhà ở không có, chuồng trâu bạn cùng.
Trên thời cha mẹ vợ chồng,
Cùng mấy em bé vui trong tháng ngày.

Ở đây lắm nỗi chua cay,
Em bé vô tội lại hay đái giầm,
Ta năm gầm gác đề phòng,
Tưởng chừng giấc ngủ ở trong đêm dài.

Bất cứ nó đái phải ai,
Ngậm miệng chịu vậy không hoài lời kêu,
Nghĩ ra một kế cao siêu.
Áo mưa ta liệu theo chiều ni lông.

Làm trần theo lối la phông,
Thế là ta triệt được dòng nước tiên,
Nhưng còn một điều rất phiền,
Khốn thay con muỗi ở trong rừng này.

Vo vo nó kêu rất hay,
Quen ở trong tối ban ngày đi đâu,
Khen thay nó khéo bảo nhau,
Theo một quy củ trước sau đều hòa

Tính nó giống tính ma tà,
Khi xưa còn ít, nay ra đầy rừng,
Đốt nhăng đốt nhít ngoài đồng,
Làm quen đốt cả những ông tu hành…”

Chỉ có ba người không di cư nên không bị bắt, đó là cha Phêrô Trưởng, thầy Phêrô Hồng, và thấy Phanxicô Liệu. Ngoài ra còn một số các ông dòng ba không nằm trong diện di cư nên cũng không bị thử thách. Trong khi các cha vắng nhà, thầy niên trưởng Phêrô Hồng hướng dẫn anh em sinh hoạt bình thường. Các giờ kinh, Thánh lễ vẫn được cử hành đều đặn mỗi ngày.

Tháng 11 năm 1953, cha Bề trên Marcô và thầy Inhaxiô (Đinh Hiền Lương) được đưa về xét xử tại Nho Quan, Ninh Bình. Cha Bề trên Marcô (Nguyễn Quang Vinh) bị đấu tố hơn một tháng, khoảng 25 tháng 11 đến sau lễ Giáng Sinh, tức là 25 tháng 12 năm 1953. Cuộc đấu tố diễn ra từ 8 giờ tối đến 3 giờ sáng ở nhiều địa điểm khác nhau, chung quanh đan viện.

Trong khi đấu tố, cha Bề trên bị trói tay, cổ đeo gông, khi đứng khi quỳ. Họ quy cho ngài những tội danh như:địa chủ, cường hào, phản động, phá hoại hòa bình…Ngài bị kết án tù chung thân. Chuyển qua nhiều trại giam và cuối cùng được lên trại Quyết Tiến (Cổng Trời). Ngài bị giam ở khu O là nơi biệt giam nghiêm ngặt và vĩnh viễn. Tại đây, cha Bề Trên đã hoàn tất cuộc đời, an nghỉ trong Chúa ngày 15 tháng 3 năm 1966.

Thầy Inhaxiô bị phạt 8 năm tù vì tội theo địch, làm gián điệp, vận động đồng bào đi Nam. Thầy kêu oan không nhận liền bị phạt thêm một năm tù nữa vì tội ngoan cố. Được đưa qua nhiều trại giam và cuối cùng thầy tạ thế tại trại Quyết Tiến ngày 27 tháng 11 năm 1964.

Cha Martino Khanh bị bịnh và qua đời tại nhà giam Đồng Lau ngày 7 tháng 12 năm 1953.

Cha Philipphê Năng, cha Rôbertô Trụ và ba thầy tập sinh được tha về ngày 2 tháng 2 năm 1954.”

Suy Niệm:

Trên đây chỉ mới là một phần của cuộc bách hại mà các vị linh mục và tu sĩ đã phải hy sinh, sống và chết vì đạo Chúa. Riêng cha Bề Trên Nguyễn Quang Vinh còn bị vu oan bởi một người phụ nữ. Bà này bị chính quyền mua chuộc nên đã ra tố cáo ngài trong các cuộc đấu tố là cha đã hiếp dâm bà ta cho có thai. Họ hành hạ cha Bề Trên với đủ điều xấu xa, làm cho cha phải xấu hổ. Hiện nay (2007), người phụ nữ bất hạnh này còn sống, Bà ta tỏ lòng ăn năn thống hối vì đã vu cáo cho vị linh mục thánh thiện.

Cách đây khoảng 3, 4 năm chúng tôi đã đọc tài liệu này trên Radio Giờ Của Mẹ về trường hợp tử đạo anh hùng của các linh mục và tu sĩ đan viện Xitô Chầu Sơn, điển hình là cố linh mục Bề Trên Marcô Nguyễn Quang Vinh. Chúng tôi rất xúc động và xin các vị thánh tử đạo của đan viện cho phép gia đình chúng tôi được về viếng mộ các ngài một lần trong đời.

Hy vọng chúng tôi sẽ có dịp để kể lại những gương chứng nhân anh hùng của các vị linh mục và tu sĩ can trường của Đan viện Xi Tô Châu Sơn.

Trong một cuộc họp mặt với Đức Viện Phụ Vương Đình Lâm, ngài cho biết là hiện nay trên thế giới có tổng cộng khoảng 2400 đan sĩ khổ tu Dòng Xi Tô, mà ở Việt Nam đã có khoảng 600-700 đan sĩ. Như vậy, nước Việt Nam hân hạnh có đến 25% số đan sĩ của toàn thế giới. Đó là một vết son được viết bằng máu các vị thánh tử đạo khi các ngài âm thầm sống hy sinh cầu nguyện và chết đau đớn như Chúa Giêsu KiTô, để rồi nhờ đó mà ơn Thiên Triệu của người trẻ Việt Nam được nẩy sinh mạnh mẽ tại quê Mẹ Việt Nam và trên toàn thế giới. Tạ ơn sự quan phòng của Thiên Chúa và lời cầu bầu vạn năng của Mẹ Maria!

Kim Hà, 10/4/07

Tags · Các Đan Viện

Đọc nhiều nhất Bản in 10.04.2007. 10:30