MeMaria.org

Radio Giờ Của Mẹ - Giờ Bình An - Giờ Tin Yêu - Giờ Hy Vọng
(714) 265-1512. Email: Kim Hà | webmaster

Mục Lục
Liên Lạc

Ánh Sáng Phúc Âm

§ Nguyễn Ngọc Ngạn

Nguồn: Báo Dân Chúa

Tháng 4 năm 2003, nhà xuất bản Double Day ở New York tung ra thị trường cuốn tiểu thuyết THE DA VINCI CODE của tác giả DAN BROWN. Cuốn sách đã nhanh chóng trở thành best-seller quốc tế, gây những tranh luận có lẽ ồn ào nhất từ xưa đến nay trong lãnh vực tiểu thuyết. Tính đến hôm nay, vừa tròn 2 năm, The Da Vinci Code đã bán tới 30 triệu cuốn bìa cứng, chưa kể sẽ tái bản thành paperback giá rẻ sau này. Đồng thời cũng đã được dịch sang 44 thứ tiếng trên khắp hoàn cầu. Đạo diễn nổi tiếng Ron Howard đang thực hiện thành phim với đại tài tử Tom Hanks, hứa hẹn sẽ còn nhiều sóng gió khi trình chiếu trên màn ảnh lớn và truyền hình.

Da Vinci Code

Tại sao The Da Vinci Code bán quá chạy và được bàn tán nhiều như vậy? Là vì, tuy chỉ viết dưói dạng tiểu thuyết án mạng (thriller), nhưng nội dung chính mà tác giả nêu ra là một đề tài cực kỳ táo bạo, một xì-căng đan (scandal) vĩ đại của nhân loại, có thể tóm gọn trong mấy điểm nổi bật sau đây:

  1. Chúa Giêsu chỉ là một người bình thường, một người giảng đạo (Do Thái gọi là Rabbi), nhưng không phải là con Thiên Chúa, không sống lại sau khi đã chết. Bà Maria Madalena (Mary Magdalene) không phải chỉ là một môn đệ, mà chính là vợ của Chúa! Sau khi Chúa chết, bà Maria Madalena đang mang thai, trốn sang Pháp, sinh cô con gái tên là Sara.
  2. Các thánh Tông Đồ đã làm trái lời Chúa, giành quyền lãnh đạo Giáo Hội mà Chúa giao cho Maria Madalena, ém nhẹm việc này, lại còn bôi lọ bà, gán cho bà là gái điếm.
  3. Dòng máu của Chúa, tức là từ cô con gái Sara truyền xuống con cháu nhiều đời, được bí mật bảo vệ, đến nay vẫn còn. Giáo Hội biết, nhưng phải che đậy, vì nếu bí mật này bị tiết lộ, sẽ làm sụp đổ niềm tin của tín đồ.

Đó là vài nét chính trong The Da Vinci Code của Dan Brown, và chúng ta thấy ngay tại sao cuốn sách này lôi cuốn. Bổi vì viết về cuộc đời tình ái lâm li của một Linh Mục hay một Thượng Tọa, đã đủ hấp dẫn lắm rồi, huống chi lại viết về chính Chúa Giêsu, từ ngôi vị một Đấng Chí Thánh, bị kéo xuống làm người bình thường như mọi người! Thử tưởng tượng những ông bà già sùng đạo trong các giáo xứ Việt Nam mà đọc được cuốn sách này, thì phản ứng sẽ phẫn nộ đến mức nào!

Nhưng Giáo Hội vẫn im lặng lờ đi, không có phản ứng gì, hy vọng câu chuyện sẽ chìm lắng. Chỉ có những nhóm nhỏ, những trường Công Giáo hoặc các Giáo Xứ thảo luận với nhau hoặc phát biểu ý kiến trên Newsletter phát ở nhà thờ. Chúng ta không quên rằng, từ năm 1966 Toà Thánh Vatican đã hủy bỏ lệnh cấm giáo dân đọc những gì mà Toà Thánh cho là có hại cho Đức Tin vì tôn trọng sự phán đoán của mỗi người. Riêng trường hợp này, nếu tôi đoán không lầm thì Giáo Hội cũng không ngờ mức tiêu thụ của The Da Vinci Code mạnh mẽ đến như vậy. Hơn 30 triệu cuốn, dịch ra 44 thứ tiếng và lại sắp làm thành phim, nghĩa là sức phổ biến sẽ càng rộng rãi hơn nữa. Tại Toronto Canada, lúc tôi viết bài này thì hiện có 4,560 người đã ghi danh, đang chờ để mượn The Da Vinci Code tại các thư viện.

Điều quan trọng đáng nói ở đây là: nếu The Da Vinci Code chỉ là một tiểu thuyết thuần túy thì không ai bận tâm, bởi trong một xã hội mà tự do tư tưởng được tôn trọng tối đa như Hoa Kỳ, thì người viết tiểu thuyết có quyền tưởng tượng ra bất cứ nội dung gì, không ai có quyền bắt bẻ. Nhưng đàng này, tác giả Dan Brown cứ nhấn mạnh nhiều lần rằng: Những điều ông viết trong The Da Vinci Code đều là những sự kiện lịch sử, nghĩa là dựa trên những tài liệu có thật! Đó mới là mối bận tâm của những người nặng lòng với sự thật lịch sử cũng như với niềm tin Tôn Giáo. Những kẻ chuyên săn tìm đề tài lạ, vừa đọc The Da Vinci Code đã vội vàng lên tiếng hết lời ca ngợi. Chẳng hạn tờ Library Journal gọi đó là “a masterpiece should be mandatory reading”(một kiệt tác bắt buộc phải đọc) . Tuần báo Publisher’s Weekly thì gọi nó là “an exhaustively researched page-tuener about secret religious societiees, ancient cover up and savage vengeance” (một công trình khảo cứu kiệt lực về các tổ chức tôn giáo bí mật, về sự che đậy lâu đời và trả thù man rộ).’

Thế giới hiện nay có hơn 2 tỉ người tin Chúa, dù thuộc nhiều hệ phái khác nhau. Nghĩa là hơn một phần ba dân số toàn cầu. Không thể lờ đi một câu chuyện nghiêm trọng như thế này, bởi The Da Vinci Code ít nhiều cũng làm lung lay Đức Tin của một số tín hữu. Cái khéo léo của tác giả Dan Brown là ông đã sử dụng những địa danh có thật, những tổ chức có thật, những nhân vật có thật trong lịch sử để dùng làm dẫn chứng cho giả thuyết của mình, cho nên sách có sức thuyết phục độc giả. Chí có điều đáng trách là ông đã bóp méo, đã uấn nắn những cái có thật đó để phục vụ mục tiêu riêng của ông mà phần lớn độc giả vì không có thì giờ tra cứu, sẽ rất dễ bị lường gạt. Trung tuần tháng 3 vừa qua (3/2005), Đức Hồng Y Tarcisio Bertone, có lẽ là vị Giáo phẩm cao cấp đầu tiên lên tiếng cảnh giác trên đài Vatican Radio rằng:

“Thật là nguy hiểm, cuốn sách đang tràn lan khắp nơi. Nhiều độc giả sẽ tưởng rằng những điều trong sách là sự thật”.

Tài tử Anh Tony Robinson cũng nói rằng:

“Nếu những điều Dan Brown viết là sự thật, thì Giáo Hội 2000 năm qua đã được xây dựng trên một sự dối trá, một sự che đậy bất chính”.

Đúng như thế, nếu Chúa Giêsu, như Dan Brown mô tả, chỉ là một người bình thường như bất cứ ai, thì giáo dân chúng ta đã bị lừa từ bao nhiêu thế hệ! Thánh Phaolô Tông Đồ đã nói trong thư gửi giáo hữu Corinthians rằng: “Nếu Chúa Giêsu không sống lại, thì những điều tôi giảng cho anh chị em đều vô nghĩa và Đức Tin của anh chị em cũng chả có nghĩa lý gì! Bởi vì việc Chúa Phục Sinh là nền tảng để hoàn tất công cuộc cứu chuộc nhân loại”.

Rất may là trong khi Giáo Hội làm ngơ với cuốn sách nguy hiểm ấy, thì biết bao nhiêu học giả, ký giả, nhà văn, đã nhanh chóng nhập cuộc, bỏ thì giờ và công sức đi tìm sự thật để phản bác lại giả thuyết của Dan Brown. Chính sự tham gia tranh luận của hàng loạt học giả, mà phần lớn là các giáo sư đại học, các sử gia, đã cho thấy tầm mức quan trọng của vấn đề Dan Brown đặt ra.

Tiến sĩ Darrell Bock viết cuốn “Breaking The Da Vinci Code”, trong đó ông nói rõ: “Tôi không phải là một người Công Giáo. Tôi không có ý đứng ra bênh vực Toà Thánh La Mã hoặc vai trò lãnh đạo của thánh Phêrô. Tôi viết cuốn này như sự đóng góp của một người chuyên nghiên cứu Tân Ước và sự thành hình của Giáo Hội thuở sơ khai. Công việc tra cứu của tôi chỉ nhằm mục đích tìm hiểu xem The Da Vinci Code chứa đựng được bao nhiêu sự thật”

Một điều đáng ghi nhận ở đây, là những bài báo, những cuốn sách, những chương trình truyền hình, mặc dầu tỏ ý bất đồng sâu sắc với Dan Brown, nhưng các tác giả đã rất điềm tĩnh, không phẫn nộ, không gào thét giống như thói quen của cộng đồng chúng ta. Các học giả đều biết rằng, khi cần chống lại một luận cứ sai lầm, nhiệm vụ của họ là phải nêu ra được những dẫn chứng cụ thể cũng như lý luận vững chắc để thuyết phục quần chúng, chứ không phải cứ lên án bừa bãi, gay gắt chửi bới Dan Brown mà quần chúng nghe theo. Ngày xưa, chúng ta theo đạo và giữ đạo hoàn toàn bằng Đức Tin, dựa theo câu của Chúa bảo thánh Tôma “Phúc cho những kẻ không thấy mà tin”. Ngày nay,. Khi trình độ hiểu biết của con người rộng mở, nặng đầu óc khoa học, và nhất là quyền tự do phát biểu được tôn trọng gần như tới mức tuyệt đối, thì nhu cầu giải thích và chứng minh là điều tối quan trọng. Đã đành rằng cốt lõi của tôn giáo là Đức Tin, nhưng những gì thuộc về trần thế, có lý luận và chứng cớ rõ ràng, vẫn giúp cho niềm tin càng bền chặt hơn. Mới đây, ngày 13.1.2005, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II khi tiếp Phái đoàn Đại Diện Đại học Ba Lan cũng đã nói rằng: Đức Tin và lý trí luôn hỗ trợ cho nhau. Điều này, hai ngàn năm trước, thánh Phaolô Tông Đồ cũng đã viết trong thư gửi cho tín hữu với lời khuyên tương tự.

Cá nhân tôi, trong lần lưu diễn hai tuần ở Úc vào tháng 12 năm 2004, thấy thiên hạ xôn xao bàn tán chuyện “Chúa Giêsu có vợ! Chúa chết là hết chuyện, không hề sống lại. Việc Chúa Phục Sinh là do Giáo Hội sau này phịa ra!”. Tôi thấy lòng nao nao dâng lên niềm hoang mang. Tôi tự hỏi: Không lẽ những điều mình học về Chúa từ nhỏ đến nay, đều sai cả hay sao? Trong giới nghệ sĩ có người hỏi tôi:

- Chuyện ấy có thật hay không? The Da Vinci Code viết đúng hay sai?

- Tôi lúng túng trả lời cho qua chuyện:

- Dan Brown viết tầm bậy!

Nói thế nhưng chính tôi biết là tôi trả lời tầm bậy, hay ít ra là chẳng trả lời gì cả! Bởi vì nếu Dan Brown viết tầm bậy thì làm sao sách của ông bán được đến mấy chục triệu cuốn, dịch ra đến mấy ch𓓻c thứ tiếng và sắp thực hiện thành phim lớn! Phải có lý do chứ! Từ Mỹ sang Anh sang Úc và các nước Âu Châu khác, độc giả đâu có khờ khạo mà dễ bị dụ dỗ bởi một câu chuyện tưởng tượng hoàn toàn vô lý, nhất là khi đại đa số độc giả đều là tín đồ Thiên Chúa giáo? Như thế có nghĩa là Dan Brown phải trưng được bằng cứ nào đó mới dám kết luận Chúa Giêsu chỉ là một người bình thường, có` vợ là bà Maria Madalena.

Tôi tìm mua vội một số sách liên quan đến đề tài này và chăm chú theo dõi ngay trên máy bay từ Sydney qua Perth rồi từ Brisbane về Melbourne. Chuyến bay nào cũng chúi đầu vào sách. Khi về đến Canada lại lùng đọc tiếp. Có những cuốn ủng hộ cái nhìn của Dan Brown. Có những cuốn cực lực bác bỏ. Nói chung, những chồng sách ấy, giúp cho tôi phân biệt đâu là sự thật, đâu là tưởng tượng qua tiểu thuyết của Dan Brown. Tôi mau chóng tìm lại được sự bình an trong tâm hồn. Đặc biệt là chương trình truyền hình 2 tiếng đồng hồ của tài tử Tony Robinson. Ông này đã bỏ thì giờ đi khắp nơi. Bất cứ địa danh nào mà Dan Brown đề cập trong The Da Vinci Code, Tony Robinson đều lặn lội đến tận nơi để tìm hiểu sự thật, xem có thật dòng máu Chúa còn truyền lại đến tận ngày nay và vẫn đang được bí mật bảo vệ hay chăng? Chuyến phóng sự vất vả nhưng giá trị của ông được chiếu trên đài A&E ở Mỹ và Canada lần đầu vào tối thứ Sáu Tuần Thánh (Good Friday 25.3.2005). Tổng kết cuộc điều tra, Tony Robinson nhận định rằng: Lý thuyết Dan Brown đưa ra chỉ là trò đùa! It’s a joke!

Trong khi đó, ký giả Vinay Menon của Totonto Star, cũng số ra ngày 25.3.2005 tức là thứ Sáu Chúa Chịu Nạn, đã nhắc đi nhắc lại lời Dan Brown nói trong cuộc phỏng vấn rằng:

- Tất cả những điều tôi viết trong The Da Vinci Code đều dựa trên sự kiện lịch sử, tức là có thật!

Vinay Menon của tờ Toronto Star kết luận rằng:

- Câu này của Dan Brown, làm cho tôi nhớ lại lời minh xác long trọng của Bill Clinton: I did not have sex with that woman!

Bài này, đáng lẽ tôi phải viết dài lắm, bởi như tiến sĩ Paul Maier, giáo sư Sử Học đã viết:

- The Da Vinci Code của Dan Brown chứa đầy những sai lầm lịch sử, những sự lường gạt, sai lạc và nhắm tấn công thẳng vào niềm tin của tín đồ Thiên Chúa Giáo…

Nhưng nghĩ lại, đây không phải là lãnh vực chuyên môn của mình, tầm hiểu biết về Thánh Kinh không có bao nhiêu, nên tôi xin rút lại cho đơn giản, chỉ nhắc đến một điểm trong The Da Vinci Code mà tôi chắc giáo dân Việt Nam ai cũng tò mò, đó là Chúa Giêsu lấy bà Mary Magdalene! Chứng minh được một điểm sai của Dan Brown, thì những điểm khác sẽ không có nền tảng đứng vững nữa, hoặc ít ra không còn yếu tố khả tín nữa.


Thời Chúa Giêsu, quá nhiều phụ nữ được đặt tên Maria (Mary) bởi đó là cái tên thông dụng từ tiếng Do Thái cổ là Miriam. Trong Tân Ước có đến khoảng 7 bà Maria, nhưng chúng ta thường nhớ đến 3 bà:

  1. Thứ 1: Maria mẹ của Chúa Giêsu.
  2. Thứ 2: Maria ở Bethania, tức là chị của ông Lazarô được Chúa cho sống lại sau khi chết được 4 ngày. Bà Maria này là người xức dầu thơm và lấy tóc lau chân Chúa.
  3. Thứ 3: Maria Madalena, vì để dễ phân biệt, người ta gọi là Maria Madalena, tức là lấy tên làng Magdala của bà ghép vào tên bà. Đó là làng đánh cá ở vùng biển Galilêa.

Kinh Thánh không để lại nhiều nét tiểu sử về bà Maria Madalena. Phúc Âm Luca chỉ nhắc đến sự kiện bà đã được Chúa trừ 7 qủi ra khỏi thân xác bà. Phúc Âm thánh Mathêu cũng như thánh Gioan đều chỉ nói rằng: Bà là một trong nhóm phụ nữ cùng theo Chúa từ Galilêa, đem của cải của mình ra mà giúp Chúa cùng các môn đệ trên đường đi giảng đạo.

Chúng ta thường thấy bà Madalena mỗi khi được nhắc đến, đều xuất hiện chung với một nhóm phụ nữ. Bà cùng Mẹ Maria theo chân Chúa suốt cuộc tử nạn và có mặt dưới chân Thánh Giá khi Chúa chết. Bà cũng là người ra mộ Chúa và khám phá ra ngôi mộ trống. Có nghĩa là bà là chứng nhân đầu tiên của sự sống lại.

Với sự hiện diện bình thường như thế tại sao lại đưa đến cái nhìn của Dan Brown cho rằng bà là vợ của Chúa Giêsu?

Thật ra thì ý tưởng bất thường này đã có từ cuốn Holy Grail, Holy Blood do 3 tác giả xuất bản năm 1982. Đó là Micheal Baigent, Richard Leigh và Henry Lincohn. Đó cũng là một cuốn sách best-seller nhưng không nổi đình nổi đám như The Da Vinci Code của Dan Brown. Từ sự gợi ý qua Holy Grail-Holy Blood, Dan Brown đưa thêm lý luận và dẫn chứng để biện minh cho sự kết hôn giữa Chúa và bà Madalena như sau:

1. Thời Chúa Giêsu, đàn ông Do Thái gần như bị bắt buộc phải cưới vợ. Chúa Giêsu không có quyền sống độc thân khi tuổi đã trên 30.

2. Trong Gospel of Philip ghi rằng: Bà Maria Madalena là người đồng hành (companion) của Chúa. Dan Brown dịch chữ “companion” là “spouse”, tức là người vợ.

3. Trong Gospel of Mary (Magdala) có đoạn như sau, ghi lại cuộc bàn cãi giữa các Tông Đồ tiên khởi:

“He (Peter) questioned them about the Savior: “Did He really speak with a woman (Mary Magdala) without our knowledge and not openly? Are we to turn about and listen to her? Did He prefer her to us:” Then Mary wept and said to Peter: “My brother Peter, what do you think? Do you think that I have thought this up myself in my heart, or that I am lying about the Savior?” Levi answered and said to Peter: “Peter, you have always been hot tempered. Now I see you con tending against the woman like the adversaries. But if the Savier made her worthy, who are you indeed to reject her? Surely the Savier knows her very well. That is why He loved hermore than us…”.

Tạm dịch: Ông Phêrô hỏi các bạn mình về Chúa Cứu Thế: “Có thật Chúa đã nói chuyện riêng với Maria Madalena mà không cho chúng ta biết chăng? Không lẽ bọn chúng ta phải nghe lời Maria hay sao? Có thật là Chúa đã thương Maria hơn chúng ta không?” Bấy giờ bà Madalena mới khóc mà nói rằng: “Anh Phêrô ơi! Anh cho rằng tôi bịa đặt ra những điều tôi vừa nói hay sao? Chẳng lẽ tôi nói dối về Chúa Cứu Thế hay sao? Ông Levi liền trả lời và bảo Phêrô: “Lúc nào anh cũng nóng nảy. Anh nói chuyện với Maria mà tôi thấy như là đối xử với kẻ thù. Nếu Chúa đặt để cho Maria là một con người có giá trị, thì anh là ai mà dám phủ nhận? Chắc chắn Chúa biêt rõ Maria cho nên Chúa mới thương cô ấy hơn chúng ta…”

Trên đây là 3 điểm căn bản mà Dan Brown dựa vào để kết luận Chúa Giêsu lấy bà Madalena. Dan Brown cũng nhắc đến bức họa The Last Supper (Bữa Tiệc Ly) nổi tiếng của Leonardo Da Vinci, trong đó ông chỉ cho độc giả thấy người Tông Đồ trẻ Chúa yêu mến mà ai cũng yên trí là thánh Gioan, nhưng thật ra là bà Maria Madalena. Bởi theo Dan Brown họa sĩ Da Vinci là người nằm trong nhóm bí mật, bảo vệ “dòng máu lưu truyền” của Chúa Giêsu và bà Madalena. Nhóm này có tên là The Priory Of Sion. Chính vì mật hiệu này mà Dan Brown đặt tên cho tuểu thuyết của mình là The Da Vinci Code.


Bây giờ, chúng ta thử đi sâu vào mấy điểm vừa nêu xem luận cứ của Dan Brown có vững chắc hay không?

* Thứ nhất:

Quả thật theo phong tục Do Thái thời ấy, một thầy giảng (Rabbi), thông thường đều có vợ. Dân chúng thời ấy vẫn gọi Chúa là Rabbi, nhưng thật ra Chúa không chính thức ghi danh làm một thầy Rabbi theo đạo Do Thái (Judaisme) vào giảng đạo trong Đền Thờ. Theo Phúc Âm thánh Luca, thì Chúa muốn người ta gọi là “Teacher” chứ không muốn được gọi là Rabbi, bởi Chúa dậy những điều quá mới lạ so với những giáo huấn cũ của Do Thái giáo. Vì vậy, Chúa không đi theo phong tục của các Rabbi là đều có vợ. Vả lại, lập gia đình không phải là luật buộc, mà chỉ là phong tục hoặc lời khuyên. Chẳng hạn nhóm Essenes ở Qumran, gồm toàn thanh niên độc thân để phụng sự Thượng Đế. Hoặc như thánh Gioan Baotixita Tẩy Giả cũng sống độc thân cho đến khi tử đạo. Như vậy thì việc Chúa Giêsu độc thân chẳng phải là một ngoại lệ quá bất thường.!

* Thứ hai:

Dựa vào Gospel of Philip, nói nà maria Madalena là vợ Chúa và Chúa hay hôn bà. Chúng ta đã biết: Phúc Âm có đến mấy chục bộ khác nhau, được phổ biến dưới những tên tác giả khác nhau. Co tài liệu cho rằng tổng số có đến 80 Gospels. Nhưng Giáo Hội thuở đầu chỉ chính thức công nhận 4 Phúc Âm là Mathêu, Marcô, Luca, và Gioan. Bốn Phúc Âm này đầy đủ, xuất hiện sớm, nội dụng chú trọng đến những lời dạy và việc làm của Chúa trong 3 năm giảng đạo. Những Phúc Âm khác xuất hiện quá trễ, mất đi yếu tố khả tín, vì ngày ấy làm gì có máy thu âm hay thu hình để ghi lại chính xác lời Chúa và những việc Chúa làm. Kể đi kể lại, thế hệ này xuống thế hệ khác, hoặc thêm hoặc bớt, khó tránh khỏi tình trạng tam sao thất bản, cho nên những cuốn ra đời trễ sẽ chỉ được dùng làm tài liệu tham khảo chứ không được phổ biến chính thức cho giáo dân.

Theo các học giả thì Gospel của Marcô là cuốn đầu tiên, ra đời khoảng năm 50 A.D. nghĩa là chỉ khoảng hai chục năm sau cuộc tử nạn của Chúa. Kế đó là Mathêu và Luca. Cuối cùng, vào khoảng thập niên 80 là Gospel của Gioan. Nói chung thì cả 4 Gospels đó đều xuất hiện trong thế kỷ đầu, khi nhiều môn đệ và nhân chứng cùng thời với Chúa vẫn còn sống để xác nhận.

Cũng cần nhấn mạnh là những cuốn Gospels ngoài luồng, chẳng hạn như Gospel of mary, Gospel of Peter, Gospel of Thomas v.v. tuy ngày nay các học giả đều có lưu giữ, hoặc tại các Thư Viện đặc biệt, nhưng bị mất mát nhiều chương, thiếu trang, thiếu chữ hoặc thiếu nhiều trang bị đục lỗ do bất cẩn, thành ra ý nghĩa từng câu văn hay đoạn văn có thể bị hiểu sai hẳn ý thật của nội dung.

Tưởng cũng nên nhắc lại là năm 1945, một người chăn cừu ở vùng Naj Hammadi trên bờ sông Nile, Ai-Cập, tình cờ khám phá ra một cái hang, trong đó chứa đựng cả một kho sách liên quan đến tôn giáo khoảng thế kỷ thứ Tư. Bây giờ những tài liệu ấy được lưu trữ và gọI chung là Naj Hammadi Library. Gospel of Mary, Gospel of Philip, Gospel of Thomas v.v. là vài cuốn có mặt trong đợt khám phá bất ngờ ấy. Tuy nhiên, các nhà sử học sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng đều bày tỏ một ý chung về những cuốn Gospels này là “không đáng tin cậy” (The accuracy was doubtful).

Chỉ riêng Dan Brown đã tận dụng những tài liệu này (Gospel of Philip và Gospel of Mary) để bênh vực cho ý đồ của mình.

Về đoạn văn trong Gospel of Mary mà ông Peter đặt câu hỏi: “Phải chăng Chúa thương Maria Madelena hơn tất cả chúng ta?” Dan Brown dùng đoạn này để chứng minh rằng, chính các đại môn đệ của Chúa cũng từng ganh tị và xác nhận Chúa có cảm tình riêng với Madalena. Nhưng cũng nhờ đoạn này mà chúng ta thấy được tác giả Dan Brown ngớ ngẩn! Vì nếu quả thực bà Maria Madalena là vợ của Chúa, thì các môn đệ còn đặt ra câu hỏi ấy để làm gì? Dĩ nhiên vợ người ta thì người ta phải thương hơn người ngoài? Có ai ngu mà đặt câu hỏi: Sao ông ấy lại yêu vợ ông ấy hơn tôi? Và nếu bà Madalena là vợ của Chúa, thì các môn đệ khác, dù nóng nảy như ông Peter, cũng chẳng bao giờ dám nói nặng lời với Madalena để bà phải khóc! Đó là lẽ tự nhiên trong cuộc đời.

* Thứ ba:

Gospel of Philip ra đời khoảng giữa thế kỷ thứ 3, tức là sau khi Chúa chịu nạn hơn 200 năm, mức độ khả tín đã giảm đi rất nhiều. Nhưng giả như Gospel of Philip hoàn toàn có nội dung đáng tin cậy, thì các học giả đều cho biết, cuốn này nguyên bản viết bằng tiếng Hi-lạp. Dan Brown tra cứu bản đã dịch từ tiếng Hi-lạp sang tiếng Aramaic, nên chữ companion mới bị hiểu sai là spouse hoặc wife.

Cũng nên thêm ở đây một đoạn văn trong thư thánh Phaolô Tông Đồ gửi Giáo đoàn Corinthians khi Ngài viết:

“Chúng ta không có quyền nhận sự trợ giúp tài chánh hay sao? Chúng ta không có quyền có một ngườI vợ mà chúng ta tin tưởng, như các Tông Đồ khác, như ông Cephas (Peter) hay sao?”

Giả như Chúa Giêsu có vợ, thì chắc chắn thánh Phaolô Tông Đồ đã viết một cách mạnh mẽ rằng: “Chúng ta không có quyền có vợ như Thầy chúng ta sao?”.

Đàng này, thánh Phaolô chỉ đem các Tông Đồ khác và đem ông Peter ra làm thí dụ. Như vậy, đủ nói lên rằng Chúa là người độc thân. Đoạn thư này của thánh Phaolô cũng cho thấy rõ là Giáo Hội thời ấy không hề giấu giếm việc các vị lãnh đạo Giáo HộI lập gia đình. Nếu Chúa Giêsu có vợ, họ đã không cần che đậy bởI tân Giáo HộI lúc đó vẫn còn chịu ảnh hưởng của các Rabbi Do Thái, các thầy giảng đều phảI có gia đình.

Tổng kết lại, khi tìm hết trong 4 Phúc Âm, chúng ta không thấy dấu tích nào về việc Chúa có vợ như Dan Brown công bố trong The Da Vinci Code. Khi Chúa sắp về trờI, trên Thập Tự Giá, nếu bà Madalena là vợ Chúa thì chắc hẳn Chúa đã phó thác mẹ mình cho Madalena, chứ không giao cho thánh Gioan.

Từ việc công bố bà madalena là vợ Chúa, Dan Brown dẫn sang một hệ quả phụ nhưng không kém phần quan trọng, The Da Vinci Code trang 247 viết: “Jesus suspects He will soon be captured and crucified. So He gives Mary Magdalene instrucrions on how to carry on His Church after He is gone… It was not Peter to whom Christ gave directions with which to establish the Christian Church. It was Mary Magdalene “

Tạm dịch: “Chúa Giêsu đoán trước là mình sắp bị bắt và sẽ bị đóng đinh,

cho nên Chúa chỉ dẫn cho bà Maria Madalena cách thức làm sao để nối tiếp công việc của Giáo Hội sau khi Chúa ra đi… Không phải Peter là ngưới được Chúa chỉ đường xây dựng Giáo Hội, mà chính là Maria Madalena”.

Thánh Kinh chúng ta đọc từ nhỏ, ai cũng nhớ câu: “Phêrô con là đá, trên đá này Ta sẽ xây Giáo Hội…”

Và nhớ hơn nữa là đoạn cuối cảm động hơn, khi Chúa hiện ra ở Hồ Tiberia, 3 lần hỏi “Simon, con có mến Thầy không?”, để 3 lần Chúa dặn dò ông Peter hãy chăn giắt đàn chiên của Chúa.

Bây giờ đọc tiểu thuyết của Dan Brown, phải đổi lại là “Mary! Con là đá!”. Sự thật như thế sao?

Ở trang 254, The Da Vinci Code nhắc lại:…She was the woman to whom Jesus had assigned the task of founding the Church… The Church, in order to defend itself against Magdalene’s power, perpetuated her image as a whore and buried evidence of Christ’s marriage to her..”

Tạm dịch: “Bà là người đàn bà được Chúa ủy thác công tác thành lập Giáo Hội… Vì cần chống lại thế lực của bà, Giáo Hội đã xuyên tạc hình ảnh của bà, gán cho bà là gái điếm, đồng thời chôn giấu tất cả những chứng cớ là bà đã lấy Chúa Giêsu…”

Ngay trang kế, 255, The Da Vinci Code viết: “Mary Magdalene was pregnant at the time of crucifixion. For the safety of Christ’s unborn child, she had no choice but to flee the Holy Land… Mary Magdalene secretly traveled to France, then knouw as Gaul. It was here in France that she gave birth to a daughter. Her name was Sarah”.

Tạm dịch: “Lúc Chúa bị đóng đinh thì Maria Madalena đang mang thai. Vì sự an toàn cho đứa bé, con Chúa Giêsu còn trong bụng me, Madalena không còn lựa chọn nào khác ngoài trừ việc trốn khỏi vùng Thánh Địa… Bà bí mật sang Pháp, lúc ấy còn gọi là Gaul. Chính tại đất Pháp này, bà đã hạ sinh một đứa con gái. Tên đứa bé là Sara”.

Đoạn văn này, tôi thấy trái ngược với đoạn trên mà không cần phải dùng sử liệu chứng minh. Ở đây, cứ theo Dan Brown thì ta phải hình dung Chúa Giêsu là một người bình thường, một người hoàn toàn phàm tục, chết đi không sống lại. Một ông chồng sắp chết mà vợ đang mang thai, Giáo Hội mà Chúa định xây dựng chưa thành hình. Trái lại đang bị bắt bớ, các môn đệ bỏ trốn tứ tán. Giáo Hội ấy chưa biết sẽ ra sao trong những năm tháng sắp tới. Không lẽ bao nhiêu môn đệ dưới trướng mà ông chồng sắp chết ấy lại bỏ qua hết để giao quyền lãnh đạo cho bà vợ đang có thai? Mà lãnh đạo ai, lãnh đạo cái gì lúc ấy? Giả như đó là một business đang sinh lời, thì chúng ta còn có thể hiểu được là ông chồng hấp hối trao lại cho vợ con! Đàng này, Giáo Hội chỉ mới nằm trong tưởng tượng, chưa đặt được viên đá đầu tiên, sao lại giao cho bà vợ đang mang bầu?

Mà thôi, cũng chẳng cần bàn đến chuyện vô lý ấy nữa, bởi vì cứ theo Dan Brown, Chúa vừa chết, bà Madalena đã bỏ trốn ngay sang Pháp và sống ẩn dật trong cộng đồng Do Thái, thì ông Peter việc gì phải giành giật quyền lãnh đạo từ tay bà? Bà trốn mất tăm rồI! Có ai biết bà ở đâu mà giành quyền lãnh đạo?

Còn bảo rằng Giáo Hội muốn hạ giá bà Madelena, cho nên xuyên tạc và bôi lọ, gán cho bà là gái điếm thì thật ra câu chuyện không đơn giản như vậy. Năm 591, khi Giáo Hội đã vững mạnh, thì Đức Giáo Hoàng Gregory The Great (Grêgôriô Cả) trong một bài giảng về bà Maria Madalena, đã gọi bà là “người đàn bà tội lỗi” để nhấn mạnh đến sự sám hối (repentant sinner) như bất cứ người Công Giáo nào. Trong Thánh Kinh, trong các văn kiện của Toà Thánh, cũng như trong bài giảng của chính Đức Giáo Hoàng, không hề thấy có chữ prostitute (gái điếm) để chỉ bà Madalena. Có lẽ chỉ là một sự hiểu lầm rồi dần trở thành thói quen truyền miệng. Mãi đến năm 1969, Vatican mới minh định lại sự nhầm lẫn của Giáo Hoàng Gregory the Great, nhưng hình ảnh bà Madalena tội lỗi vẫn nằm trong trí nhiều người.

Nếu bảo rằng Giáo Hội cố ý tạo hình ảnh xấu xa cho Madalena để làm mất ảnh hưởng của bà thì cực kỳ vô lý. Bởi gần 600 năm sau iớI có bài giảng của Đức Giáo Hoàng Gregory The Great. Lúc ấy bà Madalena đã chết từ lâu rồi, cần gì phải bôi lọ nữa!

Điềm cuối cùng tôi muốn nói đến, là The Da Vinci Code cố ý gieo vào đầu độc giả cái ý tưởng rằng, các “ông Tông Đồ” vì muốn hạ giá bà Madalena cho nên đã không ghi lại trung thực vai trò của bà từ lúc bà theo chân Chúa. Nghĩa là các ông không muốn nhắc nhiều đến bà. Thật ra thì xã hội thời đó ít để ý đến phụ nữ. Tất cả các bà đi theo Chúa đều không được nhắc đến nhiều. Thậm chí Me Maria là mẹ của Chúa, ta cũng chỉ thấy thấp thoáng. Tuy vậy, tôi nghĩ: nếu các ông chèn ép, thì lẽ nào cả 4 Phúc Âm: Mathêu, Marcô, Luca và Gioan đều dành cho bà Madalena một vinh dự quá lớn lao là Bà đã là chứng nhân đầu tiên của Chúa sống lại. Nếu các ông cố ý “chèn ép”thì chắc chắn các ông đã đồng lòng bảo nhau viết rằng: Chúa vừa sống lại là hiện ra ngay với các ông! Nhưng sự thật có được tôn trọng thì họ mới xứng đáng là Tông Đồ của Chúa và là thánh nhân của Giáo Hội.

Nguyễn Ngọc Ngạn
Mùa Phục Sinh 2005

Tags · Da Vinci Code

Đọc nhiều nhất Bản in 27.06.2006. 10:03